Cục thịt viên trên đũa Phương Nhã Ân rớt xuống, rơi vào trong nồi, cô nghẹn họng, nhìn Diệp Mông: “Tớ vừa bò ra khỏi nấm mồ hôn nhân, cậu lại định bò vào đó?”

Diệp Mông bị cô chọc cười, vẫy phục vụ đến gọi một thùng bia, còn thản nhiên hỏi một câu: “Không ăn nấm kim châm à?”

“Bớt né chủ đề chính đi.” Phương Nhã Ân nhìn cô, trợn tròn mắt: “Tớ cảnh cáo cậu đấy, kết hôn phải thật thận trọng, Lý Cận Dữ là hàng hiếm thì đúng là hiếm thật. Nhưng mà gia cảnh nhà cậu ta cậu nắm rõ chưa? Nhà có nợ nần bên ngoài nhiều không? Thân thích họ hàng ra làm sao? Kết hôn không phải chuyện đùa, cậu không thể sa vào vũng bùn như tớ được.”

Diệp Mông ung dung gắp nấm kim châm bỏ vào bát cô: “Tớ thấy không vấn đề, không hợp thì ly hôn, tớ chiều hư anh ấy rồi, chiều đến mức anh ấy coi trời bằng vung, còn dám đạp nguyên bàn trà trước mặt tớ. Thôi, lấy nhau rồi từ từ chấn chỉnh, dù sao cũng phải nuôi dạy lại.”

“Hai người ai chỉnh ai còn chưa biết đâu đấy.” Phương Nhã Ân không lạc quan cho lắm, nhìn Diệp Mông, nghiêm túc khuyên một câu: “Cậu phải nghĩ cho kỹ vào, kết hôn không dễ dàng như thế đâu, cậu thật sự muốn sống với cậu ta cả đời? Cậu yêu cậu ta thật rồi?”

Diệp Mông có chút đăm chiêu, lông mày thanh tú khẽ chau lại rồi lập tức dãn ra, vừa gắp nấm kim châm vừa hỏi ngược: “Cậu yêu Trần Kiện không?”

Phương Nhã Ân lập tức á khẩu, không trả lời được. Cô cũng chỉ là nhất thời bồng bột mới quyết định kết hôn với Trần Kiện. Đừng nói là yêu, sau khi kết hôn, những cảm tình thuở ban đầu cũng dần tan biến hết. Ngay lúc cô đang ngây người, phục vụ đã mang bia đến.

Hai chị em đã lâu rồi không uống cùng nhau, Phương Nhã Ân là sâu rượu chính hiệu, tửu lượng sâu không thấy đáy, chưa bao giờ biết say là gì. Diệp Mông thì  uống không giỏi lắm, cô và Lý Cận Dữ đều thuộc kiểu uống hai ly là gục, Lý Cận Dữ đỡ hơn cô một chút, ít nhất cũng gồng được đến 5,6 ly. Diệp Mông còn bị dị ứng với rượu, uống tầm một ly là cổ đã ửng đỏ.

Nhưng cô mở bia lại rất thuần thục, dùng răng thôi cũng bật được nắp, vui vẻ hướng chai về phía Phương Nhã Ân, ý bảo cụng chai.

Phương Nhã Ân không đáp lại, Diệp Mông mới mất hứng đặt chai xuống, nhẹ nhàng nói với cô: “Cuộc sống không phải chính là thế này sao, khổ sở mấy rồi cũng qua hết thôi. Hồi tớ ở Bắc Kinh, đứng ở trên sân thượng, nhìn cả thành phố lên đèn, nhưng không có một ngọn đèn nào thuộc về tớ, cảm giác không thể hòa nhập được với nơi đó, rất cô đơn, có kiếm được bao nhiêu tiền cũng không lấp đầy được khoảng trống trong lòng. Nhưng từ sau khi ở cạnh Lý Cận Dữ, tớ thật sự chưa giúp được anh ấy cái gì. Là anh ấy đang ủ ấm cho tớ, là tớ không nỡ rời xa sự ấm áp ấy. Từ trước đến nay chưa có người đàn ông nào, khiến tớ rung động đến vậy.”

Lời nói này khiến Phương Nhã Ân chấn động, Diệp Mông rất ít khi thổ lộ tiếng lòng một cách chân thành như vậy với cô, hơn nữa còn là vì một người đàn ông. Đôi mắt của Diệp Mông linh động, đa tình, còn lấp lánh ánh sáng khiến người ta động lòng, đã rất lâu rồi Phương Nhã Ân chưa có cảm giác này. Nhìn Diệp Mông nói chuyện tình yêu thế này, như khiến cô quay lại thuở tình đầu vừa chớm nở, khuôn mặt cũng bỗng dưng đỏ bừng.

“Cậu và Trần Kiện không có tình cảm mãnh liệt, quá bình tĩnh, đôi lúc, hôn nhân cần một chút cảm xúc mạnh mẽ.” Diệp Mông cởi áo ngoài, cổ trắng ưng ửng đỏ, có bia vào cũng bắt đầu nhiều lời hơn: “Nhưng nói thật, tớ cũng 30 rồi. Cậu nghĩ rằng tớ vẫn là cô gái nhỏ cứ yêu đi yêu lại mãi được sao? Tớ phải suy nghĩ đến thực tế nữa chứ, ví dụ bố tớ, từ sau khi mẹ ra đi bố vẫn đơn độc một mình, không dám tái hôn, ông ấy cứ tưởng tớ không biết. Đừng nhìn ông ấy nhát vậy thôi, chứ thực ra là do ông ấy thấy tớ chưa lập gia đình, sợ tớ nghĩ ông ấy phản bội mình, nên không dám, dù có gặp được một dì nào đó tốt đi nữa thì cũng không dám qua lại với người ta. Còn có bà nội tớ, năm sau đã 90 rồi, bà tự trách mình rất nhiều đấy, sinh ra ba người con vô sinh, khóc lóc nói Diệp gia vì bà mà đoạn hậu, bà phải xuống dưới đó đền tội với liệt tổ liệt tông, tư tưởng bà rất cổ hủ, nhưng tớ có thể làm sao đây, tớ tận hưởng, tớ nhận lấy tình yêu cùng sự bao dung của họ mà còn dám làm một đứa cháu bất hiếu với liệt tổ liệt tông sao?”

Tư tưởng của người già rất cổ hủ, đó là sự ảnh hưởng thâm căn cố đế, không thể thay đổi, là một người con, người cháu, không thể để người lớn thất vọng được.

Nói đến đây, Diệp Mông thở dài một hơi: “Từ xưa đến giờ tớ chưa từng nói với ai là tớ yêu anh ấy, cũng có thể là vì tớ chưa thực sự yêu ai. Và vì tớ thấy yêu là cái gì đó quá lớn lao, tạo gánh nặng cho đối phương. Cậu lúc nào cũng cứ nhắc đến người ta, không phải là vì muốn người ta nhớ đến mối tình đó sao? Dù sao, tốt nhất là anh ấy cũng không nói, nếu không tớ cũng sẽ cảm thấy gánh nặng. Hơn nữa, có đôi lúc chính  vì kích động nhất thời mới đi đến quyết định kết hôn, nếu ai đó phải suy nghĩ rất lâu rất lâu rồi mới nói với tớ là cô ấy muốn kết hôn, tớ sẽ nghĩ cô ấy đúng là ngốc.” 

Phương Nhã Ân bị nói đến câm nín, cũng không phản bác lại. Đúng vậy, một người phụ nữ có điều kiện tốt sẵn rồi, hà cớ gì phải lấy hôn nhân ra trói buộc chính mình.

Cuối cùng cô cũng tự động mở bia, giơ về phía Diệp Mông: “Vì sự tự do của phái nữ, cũng vì tinh thần độc lập đang rực cháy trong chúng ta.”

Hai người nhìn nhau cười, hồi lâu sau, nhà hàng cũng thưa thớt, đèn cũng đã tắt bớt một nửa. Chỉ còn hai người họ mê man ngồi một góc, Diệp Mông ngồi không vững, nằm sấp lên bàn, cả người ửng đỏ, trước mắt chỉ có một mảng trắng quay vòng, cô không nhìn được bất cứ vật gì, khó chịu vùi đầu xuống, nói với Phương Nhã Ân: “Gửi tin nhắn cho Lý Cận Dữ, kêu anh ấy đến đón tớ.”

*

Lý Cận Dữ đang dạy kèm cho em gái Trịnh Khai Nhiên, mà cũng không hẳn là dạy kèm, học kỳ sau Trịnh Tinh Tinh muốn nộp đơn tham gia vào Câu lạc bộ trí nhớ của trường nên Lý Cận Dữ dạy cho cô vài bài cơ bản.  Dù Trịnh Khai Nhiên có không muốn mấy đi nữa cũng không kìm hãm được sự yêu thích của em mình. Hắn không hiểu, cái phương pháp loci chó má gì đó, cũng chỉ là thủ đoạn tán gái mà thôi, dựa vào cái gì mà phải cật lực học lấy học để, Lý Cận Dữ là chuyên gia trong lĩnh vực này còn không phải vì nó đẹp trai thôi hay sao!

“Còn có một phương pháp nữa, là dựa vào số học, đối chiếu 0-9 với chữ cái.” Dù là đang giảng bài, dáng vẻ của Lý Cận Dữ vẫn rất thoải mái, dựa lưng vào ghế, không khác gì đang nói chuyện phiếm, không giống thầy giáo chút nào, “Ví dụ, 0 giống chữ D, nên 0 sẽ tương đương với D. Phiên âm của số 1 bắt đầu bằng chữ Y (yi) nên 1 tương ứng với Y. Số 2 nhìn giống chữ Z nên tương đương với Z....4 và 6 thì tương đối đặc biệt, cứ lật ngược số lại sẽ giống chữ h và g.”

Lý Cận Dữ rút một tờ giấy, ghi các số tương ứng với từng chữ cái ra đưa cho cô: “Em cứ nhớ bảng mẫu này đã, trừ 1,3,5 dựa vào phiên âm để nhớ thì các số khác đều dựa vào sự tương đồng về hình dạng để nhớ.”

Trịnh Tinh Tinh nhận lấy tờ giấy, rất nhanh đã nhớ hết: “Sau đó ạ?”

Lý Cận Dữ cầm bút trên tay, nhìn cô nói: “Mỗi chữ là một nhóm, hợp thành hàng ngàn mã, có thể ghi nhớ rất nhanh mỗi con số xuất hiện trong cuộc sống ngày thường, ví dụ biển số xe, số điện thoại các thứ, hoặc cũng có thể áp dụng để học thuộc bài. Lúc đầu anh cũng dùng nó để học thuộc bài “Sư thuyết” của Hàn Dũ.”

Trịnh Tinh Tinh tò mò không chịu được: “Nói em nghe với, là nguyên lý gì vậy?”

Lý Cận Dữ đáp: “Học thuộc lòng một bài văn thì sợ nhất là đến một đoạn nào đó quên mất rồi không đọc tiếp được, nhưng bản năng chúng ta lại có thể nhớ được trình tự của số đếm, nên phương pháp loci có thể giúp chúng ta ghi nhớ trình tự để học thuộc lòng mà không bị ngắt quãng. Ví dụ trong một bài văn, em có thể dịch nó ra bằng tất cả các con số, lúc anh dịch “Sư thuyết” đã dùng đoạn 221-256, em chỉ cần dựa vào những mã số này để học thuộc là được.”

Trịnh Tinh Tinh như được mở ra chân trời mới: “Còn có thể làm thế nữa sao?”

Lý Cận Dữ dựa vào ghế, cười cười: “Dùng cách này để nhớ thơ cổ là ok nhất, hồi xưa lúc kiểm tra hay có bài điền vào chỗ trống, có câu trước nhưng không nhớ nổi câu sau đúng không?”

Trịnh Tinh Tinh gật đầu lia lịa: “Nhất là kiểu cho em câu sau ấy, em nghĩ muốn nổ não cũng không nhớ được câu trước đó, nhưng mà câu sau nhìn lại rất quen!”

Trịnh Khai Nhiên đứng ở cửa phỉ nhổ, bày đặt thần bí, ra vẻ đẹp trai thì có.

“Lý Cận Dữ, anh có việc gì sao?” Trịnh Tinh Tinh thấy từ sau khi anh nhìn điện thoại, ánh mắt lạnh dần, không nói lời nào nữa, bèn dè dặt hỏi một câu.

“Không có gì,” Lý Cận Dữ lạnh mặt, vứt điện thoại sang một bên, rồi chưa đầy một giây đã cầm lên lại, vừa nhắn tin cho Phương Nhã Ân vừa nói với Trịnh Tinh Tinh: “Khi nào em khai giảng?”

“Cuối tháng ạ.” Trịnh Tinh Tinh nói.

Lý Cận Dữ ừ một tiếng. “Mấy hôm nữa anh sẽ đưa sách liên quan đến phương pháp loci cho anh em, em cứ đọc sách đã, nếu muốn nghe giảng thì phải đi học thôi. Anh cũng chỉ là tự học, nếu em có hứng thú, anh có thể cho em mượn sách đọc.”

Trịnh Tinh Tinh đúng là chỉ có hứng thú với phương pháp loci, mừng rỡ nói: “Được được được, để em kêu anh em đi lấy. Vậy trăm sự nhờ vào sách của anh hết rồi!”

Phương Nhã Ân nghĩ Lý Cận Dữ còn phải bắt xe sang đây sẽ rất phiền, nên dứt khoát tìm một người lái xe thuê chở Diệp Mông đến thẳng nhà anh. Lúc Lý Cận Dữ về đến, Diệp Mông đã ôm hai chân ngồi trước cửa nhà anh, đầu vùi vào đầu gối, như một con nhộng co rúm lại nơi góc tối, nhìn vô cùng đáng thương.

Nghe tiếng chìa khóa tra vào cửa lách cách, Diệp Mông mơ màng ngẩng đầu lên, ngây ngốc nhìn anh.

Cạch!

Lý Cận Dữ đi vào rồi, thậm chí còn đóng cửa lại. Diệp Mông lại gục đầu xuống, anh không cần cô thật rồi.

Một giây sau, cửa lại mở ra.

Diệp Mông cảm giác được mình bị người ta ôm ngang lấy, theo bản năng ôm cổ anh, vùi vào hõm cổ mát lạnh của anh, thấp giọng hỏi: “Anh vừa đi đâu về thế?”

“Nhà Trịnh Khai Nhiên.”

“Anh đến đó làm gì?”

“Dạy kèm Trịnh Tinh Tinh.”

“Trịnh Tinh Tịnh là sinh viên rồi, còn dạy kèm cái gì, có phải con bé thích anh không?” Cô cố ý chạm vào mũi anh, nói.

Căn phòng còn chưa kịp bật đèn, ánh trăng treo giữa bầu trời chiếu vào góc sân. Không có gì thay đổi cả, vẫn như buổi đêm hôm đó. Không biết những ngày qua, Lý Cận Dữ đã sống thế nào. Anh dường như chưa dọn dẹp lại gì, đến cả bàn trà được anh tặng một đạp đêm đó vẫn nằm chỗ cũ, thậm chí trên sàn nhà còn cả vết trượt dài của chiếc bàn.

Ngoài vườn, trăng sáng lên cao, đèn đường mờ ảo, lâu lâu lại có tiếng bước chân đạp lên rơm rạ bước qua, kinh động đến Bình An đang nằm ngắm trăng.

“Cho nên bây giờ cô muốn tìm tôi để bù lại sao?”

Lý Cận Dữ vừa nói vừa ôm cô đặt xuống sofa, Diệp Mông phản ứng rất nhanh, đưa tay ôm chặt lấy cổ anh, không để anh đứng dậy. Lý Cận Dữ chỉ đành cong người, cúi đầu, mặt vô cảm nhìn cô.

Cảm nhận được hơi thở của anh, đầu Diệp Mông như căng lên, tim đập thình thịch, nằm trên sofa, mặc cho tóc xõa rối, dùng sức ôm chặt lấy anh. Chiếc cổ trắng ngần lấp ló xương quai xanh, đáy mắt đè nén sự giận dữ lúc này như phóng ra hết, chỉ còn tình ý lẫn dè dặt nhìn anh: “Thật sự không cần em nữa sao?”

Tích tắc tích tắc, tiếng đồng hồ trên tường rất rõ ràng.

Lý Cận Dữ cứ như vậy nhìn cô, nhìn rất lâu, nhìn đến nỗi Diệp Mông thấy miệng lưỡi khô khốc. Mãi cho đến lúc Bình An thẳng lưng áp vào tường, lén lúc nhìn vào trong như mong ngóng đồ ăn. Mà trong thế giới tối đen của nó, mơ hồ thấy bóng dáng hai con người đang dây dưa trên sofa.

Diệp Mông không chịu buông tay, Lý Cận Dữ đành dứt khoát ngồi xuống, chân gấp lại, tay đặt lên đầu gối, dựa lưng vào sofa, để mặc Diệp Mông ôm quanh cổ mình. Trong bóng tối, anh châm cho mình một điếu thuốc, vừa chơi bật lửa, vừa nhìn cô: “Là em không cần tôi.”

Diệp Mông lấy đi điếu thuốc trên tay anh, ôm lấy cổ anh, ghé sát lại: “Hôn em.”

Lý Cận Dữ mặc kệ cô, liếc mắt nhìn cô một cái rồi lại tiếp tục chơi bật lửa.

“Hôn em.” Diệp Mông lặp lại lần nữa.

Anh chau mày, dường như hết cách với kiểu dây dưa của cô, cúi đầu đặt lên môi cô một cái hôn vô cùng qua loa.

Lý Cận Dữ duỗi thẳng một chân, vừa vặn đặt lên bàn trà, một chân vẫn gấp khúc, tay đặt lên đầu gối. Giữ mãi một tư thế như thể mọc rễ, không hề nhúc nhích. Diệp Mông sao có thể thỏa mãn được, cô xoay người bật dậy khỏi sofa, đè anh xuống, cúi người cắn lên yết hầu của anh.

Lý Cận Dữ vẫn ngẩng đầu, tay vẫn chơi bật lửa, nhưng cũng không đẩy cô ra, mặc kệ cô cắn.

Trong bóng tối, tiếng hôn của Diệp Mông cùng tiếng lách cách của bật lửa, cả tiếng đồng hồ tích tắc trên tường, như từng hạt cát mềm rơi vào lỗ hổng trong lòng anh, cho đến khi lấp đầy.

Cô vừa hôn vừa hỏi: “Có phải anh sợ em đi Bắc Kinh rồi sẽ có gì đó với anh ta?”

“Em không sợ tôi ở lại đây sẽ đi cùng người khác?” Lý Cận Dữ nhắc cô: “Ví dụ, Lưu Nghi Nghi.”

Cô bỗng dừng lại, nâng mặt anh lên: “Anh nói thật?”

Lý Cận Dữ né đầu đi, không để cô chạm vào: “Không biết, năng lực khống chế của tôi không tốt, tương lai có lẽ không kiềm chế nổi mình, cô ta theo đuổi tôi, tôi lại không muốn bên em nữa không chừng.”

“..........”

Diệp Mông bò xuống khỏi người anh, ngồi bên cạnh anh, cũng châm cho mình một điếu thuốc. Không khí trở nên bí bách, không ai nói gì, Bình An đẩy đẩy cửa, Lý Cận Dữ đứng dậy đi đổ thức ăn cho nó, lúc quay về, Diệp Mông đã hút xong một điếu thuốc, cả người cũng tỉnh táo hẳn. Dập điếu thuốc mà thực ra đã tàn từ lâu, nhưng cô vẫn cứ lơ đễnh dập đi, ánh mắt nhìn vô định, bất thình lình nói: “Lý Cận Dữ, chúng ta kết hôn đi.”

Lý Cận Dữ không biết có nghe thấy hay không, chỉ im lặng đi ra bếp lấy đồ ăn cho Bình An, rồi lại đi vào trong, Diệp Mông tưởng rằng anh không nghe thấy nên lặp lại lần nữa. Không ngờ anh nói: “Tôi không kết hôn được.”

Diệp Mông ngây người, theo bản năng hỏi anh: “Anh từng kết hôn rồi?”

Lý Cận Dữ đứng trước tủ lạnh, lấy ra hai bao mì sợi, cuối cùng cũng nhìn cô một cách nghiêm túc: “Không, em biết tình trạng của tôi rồi đấy, kết hôn lại liên lụy đến em.”

Nói xong, anh lại bước vào bếp, chuẩn bị nấu mì, một bát cho Bình An, một bán cho chính mình.

Diệp Mông tiến vào, dựa vào tường bếp, chăm chú nhìn anh: “Cho nên, từ trước đến nay anh chưa từng nghĩ đến chuyện kết hôn với em sao?”

Lý Cận Dữ bật lửa, dựa vào kệ bếp chờ nước sôi: “Ừm.”

Cuối cùng Diệp Mông cũng hiểu cảm giác nắm bắt không được là từ đâu đến, cô như người đứng giữa băng tuyết mùa đông còn bị người ta giội cho một gáo nước lạnh, thậm chí cũng không còn cười được nữa, biểu cảm cứng nhắc nói: “Cho nên, Lý Cận Dữ, anh đang đùa giỡn tôi.”

“Tôi không.” Lý Cận Dữ xoay người, đổ thêm nước vào nồi.

Diệp Mông cười nhạt: “Ừ, anh không, anh chỉ là tận hưởng cảm giác có một người phụ nữ cam tâm tình nguyện móc tim gan ra để ở bên anh, nên là cứ hẹn hò thôi, cứ ỷ lại thôi, sau này cô ta không lấy chồng được nữa, chỉ có thể bấu víu lấy mình thôi. Anh thì hay rồi, tùy ý vẫy tay một cái, cũng có cả tá người tình nguyện theo anh.”

Diệp Mông xoay người đi ra, anh chỉ còn nghe tiếng mang giày dồn dập, giận dữ, Lý Cận Dữ biết lần này cô đi rồi, sẽ không quay lại đây tìm anh nữa. Hai người cứ thế thật sự kết thúc.

Lý Cận Dữ ngồi trên sofa nhìn cô mang giày, Diệp Mông uống quá nhiều, đầu óc không mấy tỉnh táo, không cách nào cài lại giày cao gót. Nhìn cô không hề giống phụ nữ 30, thân hình vô cùng uyển chuyển, Lý Cận Dữ bỗng nhớ hồi đọc “Tây Sương Ký”, Trương Sinh khi gặp Oanh Oanh đã phải thốt lên một câu rằng nàng như tiên tử trên trời, đẹp đến không cách nào hình dung được.

Diệp Mông lúc này như cụ già ngồi thêu thùa, mãi vẫn không cài được giày, mất hết kiên nhẫn xách giày đi chân trần.

Lý Cận Dữ cong lưng, tay kẹp điếu thuốc, gạt tàn thuốc, cũng không nhìn cô, chỉ nói: “Lấy máy ảnh về đi.”

Diệp Mông lại xách giày quay vào.

Vừa đưa tay định lấy máy, giây tiếp theo đã bị một bàn tay ấm áp túm lấy, Lý Cận Dữ kéo cô ngồi lên đùi mình, tay cầm điếu thuốc đưa lên cao như sợ làm cô bỏng. Mà Diệp Mông cũng bình tĩnh, dù bị người ta ấn xuống đùi.

“Em dựa vào cái gì mà nói như vậy,” Lý Cận Dữ ngẩng đầu nhìn cô, lúc này Diệp Mông mới thấy, mắt anh đã đỏ au, như một con thú nhỏ bị phán tận thế: “Người đưa ra hứa hẹn là em, nuốt lời cũng là em, nói đi là đi cũng là em. Em nói kết hôn thì kết hôn, mẹ nó tôi là một con chó chắc, em cũng phải cho tôi cơ hội để tạm nghỉ, để thở chứ? Đúng là tôi chưa từng nghĩ đến chuyện kết hôn, nhưng mẹ nó, trừ em ra tôi cũng chưa từng thích ai. Em đã cho tôi thời gian để suy nghĩ chưa? Mấy ngày nay em có gọi cho tôi cuộc nào không? Có nhắn một tin nào không? Em biết tôi đã sống qua mấy ngày này thế nào không? Em vui vẻ thì đến dỗ dành tôi, mất hứng rồi thì lại gạt tôi ra, làm sao tôi biết được là sau khi kết hôn, em bỏ rơi tôi đến mấy ngày! Hả?”

“Nói thế không công bằng, anh cũng không nhắn tin không gọi điện cho em...” Cô bỗng sờ phải cái gì đó nóng nóng, vừa cúi đầu liền cả kinh: “Sao tay anh lại chảy máu? Vừa nãy bị dao bếp cứa à?”

“Kệ tôi.” Anh rút tay về.

Diệp Mông lập tức cầm lấy ngón tay anh ngậm vào miệng, ngồi yên trong lòng anh, không nhúc nhích: “Đừng động đậy, có phải anh ở nhà chưa nấu cơm bao giờ không, dao cũng rỉ sét hết rồi! Cẩn thận uốn ván, nhà có hộp y tế không, phải sát trùng trước đã rồi mình đi viện.”

Lý Cận Dữ biết nấu cơm, chỉ là anh không nấu mà thôi. Thứ nhất là vì phiền phức, thứ hai là vì bà nội chê anh nấu không ngon, lâu lâu anh sẽ tự nấu cho mình bát mì, cũng chẳng mấy khi đụng đến dụng cụ trong bếp nên dao có bị rỉ cũng là chuyện bình thường.

Lý Cận Dữ nhìn cô chốc lát, ánh mắt bỗng không tự nhiên, tránh ánh nhìn đi rồi mới nói:

“Sổ hộ khẩu ở chỗ bà tôi.”

Diệp Mông ngây người, vẫn đang ngậm lấy ngón tay anh, Lý Cận Dữ càng không tự nhiên hơn, bứt rứt không chịu được, anh ngẩng đầu lên sofa, hạ mắt xuống nhìn cô: “Không phải em đòi kết hôn sao?”

“Ừ.” Diệp Mông vừa ngậm ngón tay anh, vừa gật đầu.

*

Cuối tuần cục dân chính không mở cửa, sáng sớm ngày thứ hai, cả hai đã đến cục dân chính. Hôm trước lúc đến bệnh viện, Lý Cận Dữ đã lấy sổ hộ khẩu từ chỗ bà. Bà cụ tưởng anh định bán nhà, nơm nớp lo sợ, càng giấu kín hơn, run run nói: “Cháu đòi hộ khẩu làm gì? Cái nhà rách đó của bà có đáng tiền đâu.”

Thân hình cao lớn của Lý Cận Dữ đứng trong phòng bệnh cứ như quỷ đòi mạng, sứ giả địa ngục, thản nhiên nhìn bà: “Ai bán nhà, cháu kết hôn. Qua đợt này là không còn nữa đâu. Cháu đếm đến ba.”

“1.”

Cuốn sổ hộ khẩu như gió đập thẳng vào ngực anh, bà cụ còn hét lên: “Mau đi đón về cho bà!”

Thứ hai, tiếng đóng dấu vang lên hai lần, dấu đỏ in lên tờ giấy.

Hôm đó là ngày Kinh trập (1), sấm xuân như bao trùm cả bầu trời, rền vang nặng nề như đánh thức cả thế giới hỗn loạn, rồi kế đó là cơn mưa dịu dàng hạ xuống mặt đất.

(1)

Kinh trập (tiếng Hán: 驚蟄/惊蛰) là một trong 24 tiết khí của các lịch Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Ngày bắt đầu tiết Kinh trập thường diễn ra vào khoảng ngày 5 hay 6 tháng 3 dương lịch, khi Mặt Trời ở xích kinh 345° (kinh độ Mặt Trời bằng 345°). Đây là một khái niệm trong công tác lập lịch của các nước Đông Á chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc cổ đại. Ý nghĩa của tiết khí này, đối với vùng Trung Hoa cổ đại, là Sâu nở. (Theo Wikipedia)