Thiếu Thương đoán không sai, sáng hôm sau, Hoàng đế đặt lên bàn ngự lời khai và vật chứng mà Lăng Bất Nghi đã thu gom, sau khi để các vị trọng thần lần lượt xem xong, ông phái Sầm An Tri đem lụa trắng và rượu độc đến phủ Xa Kỵ tướng quân. Vương Linh nài nỉ Hoàng hậu cho phép mình đưa tiễn mẹ ruột đoạn đường cuối cùng, Hoàng hậu bất đắc dĩ thở dài, lệnh Thiếu Thương đưa Vương Linh đi.

Trước khi đi Thiếu Thương thuận tay lấy từ trong bếp hai đĩa bánh nướng rắc đường mình vừa nướng xong, đặt trong hộp giữ nhiệt đem theo.

Đây không phải là lần đầu Thiếu Thương đến phủ Xa Kỵ tướng quân, Vương Thuần thích uống rượu đãi khách, lúc trước nàng đã từng theo Lăng Bất Nghi đến đây. Thẩm mỹ của Vương Thuần rất giống Vạn Tùng Bách, đều thích khảm vàng bạc châu báu, nhưng Vạn lão bá đi theo hướng phô trương, hận không thể chói mù mắt chó của tân khách, chí ít Vương Thuần còn biết phủ một lớp lụa mỏng bên ngoài trụ vàng ngọc lan, tỏ vẻ kín đáo.

Nhưng vương phủ bây giờ vẫn nằm đó đấy, nhưng người đã đi rồi. Mỹ tỳ dập dìu qua lại chẳng còn, tuyết đọng trên bùn lầy dơ dáy, cành khô lá úa thưa thớt rụng đầy. Trên đường đi, Vương Linh nhìn khung cảnh tiêu điều lại không kìm được đau thương. May Lăng Bất Nghi đã nghiêm ngặt ra lệnh nên nữ quyến và tài sản vẫn còn nguyên vẹn.

Đến khu nhà chính được trọng binh canh gác, Sầm An Tri mỉm cười chắp tay với Thiếu Thương: “Nghe bảo hai vị nữ công tử muốn đến nên nô tài đã chờ sẵn ngoài này, đợi Linh nương tử và Văn Tu quân nói chuyện xong, nô tài sẽ lại tới thực hiện ý chỉ của bệ hạ.”

Vương Linh rơi lệ cảm tạ: “Đa tạ Sầm nội quan đã châm chước, bây giờ ai ai cũng tránh nhà ta như tránh bò cạp, Sầm nội quan thật là người nhân hậu.”

Sầm An Tri không đổi nụ cười: “Được rồi được rồi.”

Thiếu Thương đứng đằng sau nhe răng với ông: Chính ông sẽ đưa mẹ ruột người ta xuống hoàng huyền mà giờ còn vờ nhân hậu tốt bụng cái gì, tu vi cao thâm thật!

Sầm An Tri làm như không nhìn thấy, lúc dẫn các tiểu hoàng môn đi qua hai cô gái, tên hầu của ông ta cười khì khì nhận lấy hộp giữ nhiệt từ tay Liên Phòng.

Theo Vương Linh đi vào, Thiếu Thương thấy trong phòng rất bừa bãi, những món đồ tinh tế đắt tiền bị ném vỡ không ra hình thù, Văn Tu quân ngồi trên giường trong phòng ngủ, đồ trang sức từ đầu tới chân đều đã bị lột sạch, trên đầu chỉ chải một búi tóc tròn, luôn miệng chửi rủa ‘Vương Thuần ngươi là đồ khốn kiếp vong ân bội nghĩa, dám bán đứng bà đây’, vân vân.

Vương Linh nức nở đi lên, khuỵu đầu gối xuống.

Văn Tu quân ngồi trên giường, đôi mắt đục ngầu hằn lên sự ác độc: “Ngươi đến làm gì, từ nhỏ ngươi đã gần gũi với cha ngươi, nay đến để khóc tang ta đúng không! Đồ tiểu nhân hai mặt nịnh bợ Vương Thuần, ngày trước phụ vương chọn hắn làm rể là cất nhắc cực lớn, ơn nghĩa tận trời, nhưng hắn không những báo đáp mà còn cúi đầu trước kẻ thù, đáng thiên đao vạn quả!”

Vương Linh cứng người quỳ dưới đất, đau đớn nhìn mẹ ruột.

Thiếu Thương chẳng khách khí với bà ta, đi lên nói: “Văn Tu… À không, bệ hạ đã tước phong hiệu của bà rồi, thiếp gọi bà là Vương phu nhân vậy. Phu nhân, chẳng lẽ Vương tướng quân không cưới bà thì sẽ chết đói chết nghèo hả? Vương gia cũng có máu mặt, có cưới bà hay không vẫn là vọng tộc một phương, không thiếu cái ăn cái mặc!”

Văn Tu quân đột ngột trợn trừng mắt, Thiếu Thương không sợ, tiếp tục đả kích: “Còn về việc ‘cất nhắc cực lớn’, bà nói đùa gì thế? Những vị đại nhân năm xưa có ai không biết lệnh tôn không hề coi trọng Vương tướng quân, một phó tướng nho nhỏ trong vương phủ cũng còn có mặt mũi hơn lang tế là Vương tướng quân, đây mà là là ‘ơn nghĩa’? Nếu thật sự muốn bàn về ơn nghĩa, chẳng phải bệ hạ còn có ơn nghĩa với Vương tướng quân hơn gấp trăm ngàn lần hả?!”

Văn Tu quân tức giận quát to: “Tiện tì, ngươi dám chỉ trích phụ thân ta ư! Phụ thân ta là anh hùng hào kiệt, khi ông ấy tung hoành thiên hạ, không biết đám thứ dân ngậm cỏ như các ngươi còn đang thoi thóp nơi nào!”

“Bà thôi đi! Anh hùng hào kiệt nhất đời này đang là người ngồi trên long ỷ kia kìa.” Thiếu Thương chẳng buồn nhấc mí mắt, “Ngày trước tài sản của bệ hạ không giàu có bằng lệnh tôn, đội ngũ cũng không nhiều bằng lệnh tôn, nhưng kết quả bây giờ thế nào, tới kẻ mù cũng biết. Ta nói này Vương phu nhân, ba hoa cũng có mức độ thôi. Ta thấy bà sống êm đềm quá nên đầu óc mới hồ đồ, cho bà sống hai ngày lam lũ với tỷ muội bị lưu đày nơi khỉ ho cò gáy là bà tỉnh ngộ ngay!”

Văn Tu quân giận run người, xét miệng lưỡi, dù bà ta có kéo cha ruột hay mười tám đời tổ tiên ra khỏi quan tài cũng không phải là đối thủ của Thiếu Thương, thế là bà quay sang phát tiết lên con gái: “Nghiệt chướng, ngươi chê ta chết chưa đủ nhanh nên mới tìm con tiện tì này đến chọc giận ta phải không!”

Vương Linh chậm rãi lau nước mắt, cung kính nói: “Con gái được mẫu thân hoài thai mười tháng hạ sinh, mẫu thân sắp… Con gái sao có thể không đến đưa tiễn. Huống hồ con gái cũng có đôi câu muốn hỏi mẫu thân.”

Văn Tu quân hừ lạnh, ngoảnh đầu đi nơi khác.

“Có phải mẫu thân đã bị tiểu cữu phụ lừa, bị bọn họ lợi dụng nhưng không biết không? Đây là đại sự tịch biên diệt tộc kia mà!” Vương Linh càng nghĩ càng sợ.

Văn Tu quân sẵng giọng mắng: “‘Bọn họ’ cái gì! Kiền An vương phủ là gốc rễ của chúng ta! Không có Kiền An vương phủ thì làm gì có nghiệt chướng nhà ngươi!”

Vương Linh khóc tức tưởi: “Mẫu thân, con nghe nói hồi ngoại tổ phụ còn tại thế, tiểu cữu phụ vốn chẳng kính trọng mẫu thân, rất hay xem thường mẫu thân, việc gì mẫu thân lại hủy hoại tương lai vì ông ta!”

Văn Tu quân vẫn cố chấp: “Chuyện này không chỉ vì tiểu cữu phụ của ngươi, mà còn là để trọng chấn tên tuổi của Kiền An vương phủ! Vì ngoại tổ phụ chết không nhắm mắt của ngươi, ta phải giúp tiểu cữu phụ của ngươi! Tất cả là tại lão cha ngu dốt của ngươi không biết che đậy, chứ nếu tiểu cữu phụ của ngươi thành công, ngươi sẽ có Kiền An vương phủ làm chỗ dựa!”

Thiếu Thương thấy lòng bàn tay nhói đau, nàng xòe tay nhìn, thấy móng tay ngón út của mình đã bị bấm gãy. Nàng chầm chậm bước ra, xoay lưng lại với cặp mẹ con này, nhẹ nhàng thổi phù phù vào tay mình.

Vương Linh mở tròn mắt, hét lớn: “Chỗ dựa cái gì! Đừng nói tiểu cữu phụ không bao giờ có thể thành công, mà dù ngoại tổ phụ còn sống, mẫu thân cũng chẳng được hưởng vinh quang của Kiền An vương phủ, huống hồ là con?!”

Văn Tu quân chỉ vào con gái hổn hển chửi rủa: “Đồ nghiệt chướng không có chí khí nhà ngươi, quả nhiên là một giuộc với lão cha ngu ngốc của ngươi!”

Vương Linh thở dốc, cố giữ bình tĩnh: “Được, tạm thời không nhắc đến chuyện này. Con chỉ hỏi mẫu thân một câu, mẫu thân lấy danh nghĩa của phụ thân thu gom tiền bạc lương thực cho cữu phụ, nếu xảy ra chuyện, chưa nói tới việc phụ thân khó thoát khỏi tội chết, nhưng các huynh trưởng đang làm quan nhẹ nhất cũng sẽ bị lưu đày, ngoại trừ mẫu thân có thể cậy Hoàng hậu tránh được xử phạt, cả nhà họ Vương tất sẽ gặp nạn, lẽ nào mẫu thân… không quan tâm đến những điều này?”

Văn Tu quân im lặng, dù không quan tâm đến sống chết của chồng, nhưng nói gì các con cũng là ruột thịt của bà ta. Một lúc sau, bà ta nói: “Để làm nên đại sự, có vài thứ cần hy sinh…”

Thiếu Thương cười khẩy, cảm thấy mỉa mai nhiều cũng vô ích, Vương Linh chầm chậm đứng dậy, lúc này đã không còn thấy vẻ đau buồn trên mặt nàng ta nữa, mà trái lại vô cùng bình tĩnh.

“Mẫu thân.” Vương Linh gọi khẽ, “Con gái đã hỏi xong. Giờ con muốn báo cho mẫu thân hai chuyện để mẫu thân yên tâm ra đi.”

Văn Tu quân chần chừ: “Chuyện gì?”

Vương Linh nói: “Hôm qua Kiền An vương đã bị bệ hạ bắt về đô thành, bệ hạ mắng ông ta có ý đồ mưu phản, nào ngờ ông ta đã đẩy hết tội lên đầu mẫu thân. Cữu phụ nói, ông ta không biết tiền bạc lương thực này là của Bàng nghịch tặc, cũng chưa từng có ý mưu phản. Chỉ vì đất phong cằn cỗi nên ông ta mới cầu xin mẫu thân ít tiền, để cơ thiếp và con cái ông ta được sống dư dả.”

Văn Tu quân như bị giáng một đòn nặng nề, thân hình run rẩy, sau khi lấy lại được bình tĩnh, bà ta mới gượng cười: “A đệ nói thế cũng đúng, giữ được núi xanh lo gì thiếu củi đốt, ít nhất cũng phải bảo vệ tính mạng đã.”

Vương Linh lại nói: “Còn một chuyện nữa.”

Thiếu Thương liếc nhìn, phát hiện trong mắt nàng ta lộ vẻ ác độc y hệt Văn Tu quân lúc nãy.

Vương Linh nói: “Ai ai cũng nói phụ thân tầm thường vô vi, thực ra không hẳn như thế. Dù phụ thân không có tài nhưng lại có một điểm tốt, ấy chính là thức thời. Ngoại tổ phụ có hơn hai mươi cô con gái, có tới mười mấy lang tế, vì sao bệ hạ chỉ ban quan to lộc hậu cho phụ thân, là để trấn an dư bộ của ngoại cữu phụ ư? Khi Hoàng hậu chưa thành thân với bệ hạ, cũng chẳng thấy mẫu thân và nương nương có tình chị em sâu đậm.”

Nàng nhả từng câu từng chữ rất chậm, như muốn mẹ ruột nghe cho rõ ràng.

Lần này đến lượt Văn Tu quân thở gấp, bà ta loáng thoáng nhận ra điều gì đấy.

Vương Linh lại nói: “Con gái đến để báo cho mẫu thân hay. Đó là trước đây khi ngoại cữu phụ dấy binh làm loạn, phụ thân nghe được phong thanh nên đã âm thầm báo tin cho bệ hạ. Dù bệ hạ đã có chuẩn bị sớm song cũng niệm công lao của phụ thân. Về sau phụ thân mới nói riêng với con gái, tuy lúc ấy ngoại tổ phụ có binh cường mã tráng hơn hẳn bệ hạ, nhưng ông cho rằng bệ hạ mới là chân mệnh thiên tử.”

Văn Tu quân run rẩy, cổ họng lục cục rất rõ, hai mắt lồi ra đầy căm hận.

Vương Linh bật cười, lại bồi thêm câu nữa: “Phụ thân còn nói, không chỉ một hai tướng lĩnh dưới trướng của ngoại tổ phụ có suy nghĩ ấy dâu, bọn họ cảm thấy bệ hạ mới là anh hùng hào kiệt vô song ở đời này. Bằng không, cớ gì binh mã của ngoại tổ phụ chưa di chuyển mà đã thua đến nỗi không còn đường lùi.”

Cuối cùng Văn Tu quân cũng cựa quậy, bà ta lao đến như kẻ điên, Thiếu Thương lập tức đá văng cửa, nhóm người hầu đứng bên ngoài tức khắc xông vào giữ chặt hai tay của Văn Tu quân.

Vương Linh lại quỳ xuống, giọng bình tĩnh: “Con gái xin bái biệt mẫu thân tại đây, mong rằng kiếp sau mẫu thân được bình yên, tai qua nạn khỏi, vạn sự suôn sẻ.”

Văn Tu quân bị vặn ngược hai tay ra sau lưng, đầu tóc rối bù, dáng vẻ chật vật. Bà ta nổi điên la lớn: “Vương Thuần, ngươi là súc sinh không bằng heo chó, dám bán đứng phụ thân ta…” Nhưng sau đó đã bị bịt miệng.

Vương Linh nhìn bà ta lần cuối rồi theo Thiếu Thương đi ra ngoài. Sầm An Tri thấy hai cô gái đi ra thì cười tươi như tấm bánh nướng rắc đường, kế đó dẫn tiểu hoàng môn sải bước vào phòng, đồng thời khép chặt cánh cửa ở sau lưng.

Vương Linh bình tĩnh nhìn cánh cửa khép lại, mười ngón tay nắm thật chặt, ngón tay trắng bệch vì dùng sức. Nàng ta nói nhỏ: “Mẫu thân chưa bao giờ lo cho sống chết của nhà ta, bà ấy thà để nhà ta chịu chết cũng phải bảo vệ Kiền An vương phủ cho bằng được. Có người mẹ như thế, ta tuyệt đối không muốn tha thứ!” Nàng ngoái đầu lại, cười gượng với Thiếu Thương, “Sau khi quay về, ta cả gan dâng một bức thư lên bệ hạ, tới khi ấy muốn nhờ nương nương trình lên giúp.”

Thiếu Thương nói: “Cô muốn nói gì với bệ hạ?”

Trong phòng truyền đến âm thanh giãy giụa vật lộn, Văn Tu quân không cam lòng tự vẫn.

Vương Linh làm như không nghe thấy, sắc mặt trắng bợt nói tiếp: “… Nhà họ Vương ta vốn là tàn dư của Kiền An mưu nghịch nổi loạn, nhưng nhờ bệ hạ nhân từ, khoan dung độ lượng, những năm qua luôn tha thứ cho phụ thân vô năng, ban nhiều vinh hoa phú quý cho nhà ta, Vương thị cảm kích không hết. Gia mẫu làm ra chuyện đại nghịch bất đạo như vậy, từ lâu bệ hạ đã cạn tình cạn nghĩa, xét xử Vương gia thế nào luôn là chuyện đương nhiên, toàn thể Vương gia tuyệt đối không oán hận nửa lời. Với tiểu nữ, bệ hạ chẳng những là quân vương cai quản thiên hạ mà còn là một trưởng bối hiền từ, tiểu nữ sẽ ngày đêm cầu khấn trời xanh, phù hộ cho bệ hạ sống lâu trăm tuổi, bình an khỏe mạnh…”

Lúc này trong phòng lại truyền đến tiếng gào thét thống thiết thê lương, có lẽ là Văn Tu quân đã uống rượu độc. Vương Linh không chịu nổi nữa, hai mắt nhắm nghiền ngã xuống đất, hôn mê bất tỉnh.

Đêm hôm ấy Vương Linh lên cơn sốt, nhưng nàng ta vẫn gắng gượng viết hết thư, sau đó nhờ Thiếu Thương chuyển cho Hoàng hậu, Hoàng hậu đọc xong lại đưa cho Hoàng đế. Văn chương thư pháp của Vương Linh cũng không quá hay, nhưng hơn ở tình cảm chân thành, biết cung thuận nhún nhường, và còn… e hèm, nịnh nọt bợ đỡ. Hoàng đế đọc xong quả nhiên vơi giận đi nhiều, cũng phạt Vương gia nhẹ đi ba phần.

Ban đầu chỉ giữ lại ba phần gia tài cho Vương gia, nhưng bâu giờ đổi lại chỉ phạt chưa tới ba phần; cha con Vương gia vốn dĩ sẽ bị lưu đày đến Mân Nam, giờ đổi lại lưu đày tới Kinh Nam. Đồng thời Hoàng đế còn ban cho Vương Linh một phần của hồi môn, cũng cho lang tế tương lai của nàng ta một hư chức – Vương Linh được gả vào vọng tộc ở Giang Hạ Kinh Châu, huống hồ còn có gia sản lớn, tương lai của Vương Thuần ắt hẳn sẽ không quá tệ.

Bành Chân và phe cánh liên quan tới gã, cùng với những nhà có con cháu can thiệp vào chuyện này đều bị định tội, tịch thu gia sản, nam đinh trong nhà bị lưu đày tới nơi rừng thiêng núi độc, phụ nữ trẻ nhỏ bị đuổi về quê. Khi đó có vài vị đại nhân bày tỏ xử phạt nhẹ quá, trọng tội giương cờ tạo phản đáng tội chém đầu cả nhà. Hoàng đế lên tiếng, lẽ nào cứ phải học theo tiền triều, chuyện gì cũng tru di toàn tộc?

Từ nguyên nhân vi diệu nào đó, không chúng thần nào phản bác nữa.

Còn Kiền An vương chối đây dẩy tội danh là bị Hoàng đế ghét nhất, bị giam trong Bắc Quân ngục không nghe không hỏi, mưu sĩ tùy tùng sắp bị giết sạch.

Thấy trời lại sáng sau cơn mưa, lúc Thiếu Thương cho rằng cuối cùng Thái tử cũng không cần ủ ê nữa thì trong triều lại xảy ra một chuyện không lớn không nhỏ. Sau khi Hoàng đế khép tội Bành Chân và Vương Thuần, Hàn đại nhân mà Thiếu Thương để ý hôm đó bỗng đứng dậy, nói rằng nên ban cho Thái tử một đạo chiếu chỉ vấn trách để Thái tử tự suy ngẫm, giác ngộ ngày sau, tiện chấn chỉnh người gần gũi bên cạnh.

Hoàng đế nổi trận lôi đình, trong vòng hai ngày ban xuống ba chiếu thư hỏi tội, để Hàn đại nhân nhận tội ‘phạm thượng’, vị Hàn đại nhân nho nhã ấy cũng tức tím mặt, không nói hai lời lập tức nhận tội, sau đó tự vẫn.

Lúc này Hoàng đế mới hối hận, liên tục ban tiền tài lương thực cho Hàn gia nhằm trấn an thân nhân, cũng lệnh quan lại dùng lễ trọng an táng cho Hàn đại nhân.

Tạm thời khi ấy, cố nhiên chẳng ai trong triều vấn trách Thái tử nữa, nhưng cửa Đông cung ngày một đìu hiu.

Thiếu Thương thấy Hoàng hậu sầu não không vui nên chủ động đi khuyên nhủ Thái tử, khi nàng tìm được Thái tử là lúc y ngồi trên bậc thềm ngoài điện Đông cung, Lăng Bất Nghi đứng bên cạnh.

Mặt trời ngả về tây, thềm điện không một bóng người chỉ còn lại bóng dáng cô đơn của Thái tử, mà Lăng Bất Nghi đứng thẳng đã vạch nên vệt mực kéo dài mạnh mẽ.

Thấy Thiếu Thương chạy nhanh thở hổn hển, Lăng Bất Nghi đi tới đỡ nàng ngồi xuống bậc thềm, đùa: “Em thở gấp chẳng khác gì cái ống bễ thổi gió.”

Thái tử cũng cười: “Dù mẫu hậu có cho thêm mười tiến sĩ dạy dỗ ngươi thì ngươi cũng không giống thục nữ.”

Hiếm khi Thiếu Thương không đếm xỉa đến câu đùa của hai người họ, nói to: “Điện hạ, điện hạ đừng để ý đến những kẻ nói xấu mình nữa, bọn họ không một ai tốt bụng hết!”

Thái tử tiu nghỉu: “Thực ra những năm qua ta ở Đông cung rất mệt. Từ nhỏ đã luôn được dạy bảo là phải cẩn trọng cần cù, có tình có hiếu, cần đề phòng người hãm hại mình, lúc nào cũng phải xem người mình tin tưởng trọng dụng có hối lộ phạm pháp không, có lừa trên khinh dưới không! Nếu có, ta phải tuyệt tình nhổ sach bọn họ! Có khi ta nghĩ, ta thà như ngoại tổ phụ đã nhường gia sản, nhường lại vị trí trữ quân này…”

Y chưa nói hết câu mà Thiếu Thương đã biến sắc: “Điện hạ, muôn ngàn lần điện hạ không thể có suy nghĩ đó! Tuyên thái công nhượng gia sản còn có thể sống những ngày hạnh phúc, tự do tự tại, nhưng điện hạ không thể! Thiếp chỉ hỏi điện hạ một câu, từ thời tam hoàng ngũ đế cho đến bây giờ, có bao nhiêu Thái tử bị phế được sống yên ổn?”

Thái tử thừ người.

“Có.” Lăng Bất Nghi nói, “Nếu tính các nước Đông Chu thì ít nhất có…”

“Chàng đừng xen vào! Em đang nói chuyện nghiêm túc!” Thiếu Thương thở hổn hển.

Lăng Bất Nghi dịu dàng mỉm cười, chàng nhớ lại lúc nãy khi Hoàng đế kể khổ với mình, “… Dẫu còn thiếu sót nhưng Thái tử cũng đã là Thái tử! Tuy tính nó nhu nhược nhưng khoan dung độ lượng, có nó, các hoàng đệ hoàng muội mới có thể bình an không cần lo nghĩ. Nhưng một khi kéo Thái tử xuống khỏi vị trí trữ quân, thử hỏi nó còn đường sống không?!”

Thiếu Thương tiếp tục tốn nước bọt với Thái tử: “Điện hạ nhường ghế trữ quân thì ai sẽ thay thế? Theo thứ tự tuổi tác sẽ đến Nhị hoàng tử. Mà kiểu gì ngài ấy cũng không khách sáo từ chối đâu, chắc chắn rất vui, lại còn hớn hở ra mặt, mừng chảy nước mắt ấy chứ, nhưng để ngài ấy lên còn không bằng nhường cho Ngũ hoàng tử… Điện hạ, điện hạ muốn để Nhị hoàng tử làm trữ quân thật ư, điện hạ đang gieo họa cho chúng sinh thiên hạ đấy!”

Thái tử bị khí thế của cô gái ép lùi ra sau, cười xòa bảo: “Thực ra Nhị đệ không tệ tới thế. Ôi, nếu là một hoàng đệ thông minh tài giỏi, có danh tiếng tốt thì ta thật sự bằng lòng…”

“Bằng lòng cái gì hả trời! Thiếp thấy hoàng tử nào cũng không tốt bằng điện hạ hết!” Thiếu Thương hét to, đoạn ngoái đầu, “Lăng đại nhân chàng đừng có đứng đấy nữa, rốt cuộc chàng đến đây làm gì!”

Lăng Bất Nghi mỉm cười, nói: “Ta đến truyền khẩu dụ của bệ hạ, bệ hạ bảo Thái tử cứ yên tâm, chớ lo điều tiếng mà bó tay bó chân. Về sau cẩn thận hơn là được.”

“Bệ hạ nói rất hay!” Thiếu Thương khen lớn, “Điện hạ đã nghe thấy chưa, bệ hạ rất tin tưởng điện hạ đấy!”

Thái tử lắc đầu cười khổ: “Phụ hoàng sợ ta không thể chết già nên mới an ủi như vậy.”

Thiếu Thương nghĩ Thái tử cũng không ngốc, chưa gì đã đoán được sự thật, đang định khuyên thêm đôi câu thì nghe thấy Lăng Bất Nghi nói: “Lúc nãy điện hạ đã nói ‘thông minh tài giỏi, có danh tiếng tốt’ đúng không. Nhớ năm nào Tử Thụ cũng có tiếng thông minh ưu tú, sức cân núi sông, nhưng kết quả thế nào,cuối cùng trở thành bạo quân mất nước. Danh tiếng tốt? Năm xưa Diêu Trọng Hoa được người đời khen có tính khiêm tốn, được Y Phóng Huân tán dương, gả con gái xứng đôi, ra sức trọng dụng, kết quả cũng sớm nhượng vị…”

Thiếu Thương vắt óc, nghiêm túc nói: “Tử Thụ Tân là ai? Diêu Trọng Hoa và Y Phóng Huân là ai? Em cảm thấy mình biết những người này nhưng tạm thời chưa liên hệ được với ai.”

Thái tử và Lăng Bất Nghi đồng thời khựng lại, một lúc lâu sau, Lăng Bất Nghi mới nói: “Tử Thụ là Trụ vương, Y Phóng Huân và Diêu Trọng Hoa là đế Nghiêu và đế Thuấn.”*

(*Đế Nghiêu không nhường ngôi cho con trai mà nhường cho đế Thuấn là hiền tài, về sau đế Thuấn cũng noi theo vậy, sớm nhường ngôi cho Đại Vũ lập ra nhà Hạ. (Theo truyền thuyết, so với đế Nghiêu người tại vị 100 năm thì đế Thuấn chỉ tại vị 48 năm, xem như là “sớm”).)

Thiếu Thương lúng túng cười khan: “Em còn bảo hèn gì nghe quen tai, hóa ra là bọn họ… Ha ha, ha ha…”

Thái tử chỉ vào cô gái cười phì, thoáng chốc quên đi muộn phiền.



Lại hai ngày trôi qua, hai người Lăng Trình được Thái tử nhờ đi đưa tiễn người nhà họ Vương sắp xuất giá và lưu đày.

Nom sắc mặt Vương Linh không tệ, còn nói với Thiếu Thương: “Nghĩ mới thấy thú vị, hôm đó ta rất hận mẫu thân, nhưng tương lai ta sẽ bắt chước mẫu thân, ra sức bảo vệ người nhà khi ở Kinh Châu. Cũng may cha anh ta không có ‘hùng tâm tráng chí’ như cha anh mẫu thân, chỉ cần ăn uống vui vẻ là đủ.”

Thiếu Thương thấy nàng ta có lòng thân cận, trong lòng mỉm cười. Con trẻ luôn là tấm gương phản chiếu của mẹ cha, Vương Linh vừa hay được kế thừa sự đoạn tuyệt của Văn Tu quân lẫn sự thức thời của Vương Thuần.

Có điều, nàng cũng không ghét như vậy.

Nói thế nào nhỉ? Nếu Hà Chiêu Quân thoát ra khỏi biển máu rồi tắm lửa tái sinh, vậy thì Vương Linh đã cố gắng túm lấy cọng rơm cứu mạng vào lúc không nơi nương tự. Chung quy cũng là vì cầu sinh, âu là điều dễ hiểu.

Nhưng người nàng muốn gặp hôm nay không phải là Vương Linh mà là Vương Thuần.

Trong xe ngựa trên đường trở về, Thiếu Thương chống khuỷu tay nghiêng đầu xuất thần, Lăng Bất Nghi nói gì nàng cũng không nghe, chỉ đáp một nẻo.

Lăng Bất Nghi nhíu mày, nâng cằm nàng lên: “Em sao đấy, từ khi nói chuyện với Vương Thuần xong là trở nên ngơ ngác. Vương Thuần đã nói những gì?”

Thiếu Thương lấy cằm mình ra, nhìn Lăng Bất Nghi một lúc rồi mỉm cười nói: “Có chuyện này em đã khó hiểu từ lâu, chỉ là trước đó muôn đầu nghìn mối quá rắc rối, nên em không dám nghĩ nhiều. Nhưng bây giờ tình hình đã hổn, em mới hỏi Vương Thuần vài câu để giải tỏa khúc mắc trong lòng.”

“Khúc mắc gì?” Con tim của Lăng Bất Nghi như bị bóp nghẹt.

“Lâu Bôn lừa dối chiếm công, Kiền An gom góp tiền tài lương thực. Rốt cuộc chàng biết những chuyện này từ lúc nào?”