Corey là người nước M, đây là lần đầu tiên cậu đến Trung Quốc, trong khoảng thời gian ở đây, cậu đã bị mê hoặc bởi rất nhiều thứ cậu chưa bao giờ được nhìn thấy trong đời.
“Đây là gì thế?” Corey chỉ vào cửa hàng kẹo rồi hỏi Trương Thiệu Kiệt bằng tiếng Anh.
Trương Thiệu Kiệt là cậu bạn đầu tiên Lâm Xuân xem bói cho, cậu nhìn quầy hàng, thấy ở trên treo biển viết bốn chữ “Tranh đường truyền thống”, giải thích cho Corey nghe: “Đây là tranh đường.

Đun sôi đường ở nhiệt độ cao cho đường tan thành chất lỏng, sau đó sẽ vẽ thành tranh, ăn được luôn.”
“Đây toàn là đường thật hả?” Đôi mắt Corey toát lên sự ngạc nhiên: “Chắc chắn phải là một nhà nghệ thuật siêu đỉnh mới có thể vẽ tranh bằng đường, đã thế còn vẽ cực kì sinh động, y như thế, đỉnh quá đi mất.”
Corey đã từng học vẽ, thậm chí cậu còn vẽ rất đẹp, vì cậu biết vẽ nên cậu càng thêm kinh phục những người nghệ nhân có thể vẽ bằng đường.

Người ta có thể vẽ mà không cần dùng thuốc màu, cũng chẳng cần dùng cọ vẽ mà chỉ có đúng một cái thìa, là cái thìa dùng để múc canh.

Hơn nữa, người ta vẽ rất thoải mái và khéo léo, hầu hết các bức tranh được hoàn thành chỉ trong một nét vẽ, không hề dừng lại hay xảy ra sai sót giữa chừng.

Phải hiểu rằng đường sau khi rời khỏi thìa sẽ cứng lại nên muốn sửa cũng không sửa được.
Trương Thiệu Kiệu bỗng dưng không biết mình nên giải thích cho Corey thế nào về kĩ thuật truyền thống của Trung Quốc, bởi vì chính cậu cũng không quá am hiểu.
“Cậu muốn mua không?” Cậu hỏi Corey.
“Muốn.” Corey gật đầu ngay.
“Các cậu thì sao?” Corey lại hỏi các bạn khác.
“Tớ không mua, kẹo này nhìn thôi đã thấy ngấy lắm rồi.” Hai cô gái lắc đầu, cái kẹo ngọt ngọt ngấy ngấy như thế này bọn cô không muốn ăn chút nào.

Hai bạn nam còn lại cũng lắc đầu, không thích ăn đồ ngọt.
Trương Thiệu Kiệt chỉ thanh toán một cây kẹo: “Corey, cậu muốn cái nào?”
Corey chọn tới chọn lui, thấy cái nào cũng đẹp, bỗng do dự hẳn lên: “Tớ ngắm thêm tẹo nữa được không? Cách bác ấy vẽ tao nhã quá.”
“Tất nhiên rồi.” Bố của Trương Thiệu Kiệt hợp tác với bố của Corey, hôm nay cậu dẫn Corey đi chơi vì muốn giúp bố tiếp đãi đối phương chu toàn.
“A Kiệt, bọn cậu đứng đây xem, tụi tớ đi lượn lờ bên kia đã nhé?” Ngoài Corey ra thì các bạn còn lại không hề thích thú với tranh đường, chợ đêm rộng thế này, mọi người muốn đi loanh quanh các chỗ khác nữa.
“Ừ.” Trương Thiệu Kiệt gật đầu, để các bạn khác tự do đi chợ đêm, còn mình ở lại với Corey.

Nhưng cậu đã đánh giá thấp sự yêu thích của Corey đối với tranh đường, Corey ngắm nghía đến tận 20 phút, không nhích chân đi đâu hết.

Trương Thiệu Kiệt sắp đứt gánh, nhưng Corey vẫn say mê như thế nên cậu cũng không nói gì.
“Anh!” Bấy giờ, em gái Trương Điềm chạy đến kéo anh: “Anh qua đây giành cho em con búp bê đi.”
“Cái gì?” Trương Thiệu Kiệt không hiểu.
“Đằng trước có trò chơi, bắn bóng bay được nhận búp bê, anh học bắn rồi còn gì? Giúp em nhận được con búp bê đi mà.” Trương Điềm chỉ vào gian hàng trò chơi cách đó chục mét.
Trương Thiệu Kiệt nhìn qua, quay đầu nhìn Corey, ngỏ lời mời: “Corey, cậu muốn qua bên kia chơi game không?”
Corey ngoảnh mặt nhìn, nhận ra là trò bắn bóng bay, bỗng chẳng có hứng thú gì hết.

Cậu chơi ở nước M toàn chơi súng thật, làm gì thích thú cái loại súng đồ chơi này: “Không, bọn cậu đi đi, tớ biết tớ muốn cái gì rồi, đợi nghệ nhân vẽ xong, tớ sẽ đi tìm các cậu.”
“Anh, đi nào, mau lên.” Trương Điềm vẫn đang lôi kéo.
Trương Thiệu Kiệt không chịu được sự nũng nịu của em gái, mà đứng ở đây thì cũng hơi chán, thấy hai chỗ khá gần nhau, ngoái đầu lại đã thấy nên cậu quyết định đi theo em mình.
Corey đến Trung Quốc được hơn một tuần, mặc dù cậu chưa học tiếng Trung bao giờ, nhưng mấy hôm nay cậu đã học được cách diễn đạt đơn giản trong đời sống thường ngày, với cả cậu cũng muốn được nói thử xem thế nào.

Cậu đang lựa lời để nói chuyện với họa sĩ vẽ tranh đường, rằng cậu muốn một bức tranh vẽ hình con khỉ, bỗng có một cô nhóc mũm mĩm khoảng bảy tám tuổi chen vào, nói với bác họa sĩ một cách hùng hồn: “Ông ơi, ông ơi, cháu muốn hình Trư Bát Giới, tròn thật là tròn.”
Corey nhìn cô nhóc đáng yêu nhanh miệng hơn mình, lịch sự lùi bước để cô bé mua trước.
“Lại là bé mập à, giấu mẹ đi mua kẹo đấy.” Họa sĩ nghe thấy giọng nói quen thuộc, vừa nghe đã biết bé con rất hay đến đây.

“Cả tuần rồi cháu không ăn kẹo, mẹ bảo hôm nay cháu được mua một cái ạ.” Bé mập nói chuyện như người lớn.
“Được, thế cháu có muốn tự thổi kẹo không?” Họa sĩ hỏi.
“Muốn ạ.” Bé mập phấn khích đến nỗi suýt thì nhảy cẫng lên.
Họa sĩ bỗng đổi phương thức, bác không vẽ bằng thìa nữa mà đổi sang dùng tay.

Corey chỉ thấy bác cầm một cục đường trong tay, sau đó nắn nắn bóp bóp, nặn ra một cái lỗ vừa nhỏ vừa dài, sau đó đặt cái lỗ trước miệng bé gái, cô nhóc phồng má, bắt đầu thổi khí vào trong.

Và rồi, điều thần kì đã xảy ra, cục đường đã phồng lên như quả bong bóng, dần dần biến hóa trong bàn tay của họa sĩ, cuối cùng đã hóa thành một con heo đáng yêu.
“Được rồi, cháu cầm đi.” Họa sĩ cầm cây gậy chọc vào Trư Bát Giới tròn vo để giữ kẹo cho thật chắc rồi đưa cho cô bé.
– Cảm ơn ông ạ, lát nữa mẹ cháu sẽ đến trả tiền cho ông.
“Ừ.” Họa sĩ cười híp mắt đáp lời em, đang định cầm thìa lên vẽ tiếp thì thấy chàng trai ngoại quốc vẫn luôn đứng trước gian hàng của mình cuối cùng cũng đã cất lời.
“Muốn, cháu cũng muốn.” Vốn từ vựng tiếng Trung của cậu quá ít ỏi, cậu sợ mình không diễn đạt rõ ràng nên học theo cô bé vừa nãy, làm động tác thổi thổi.
Họa sĩ hiểu ngay: “Cháu cũng muốn kẹo thổi như thế?”
“Vâng.” Corey gật đầu lia lịa, lại làm hành động thổi thôi.
“Được, cháu muốn cái nào?” Thật ra thì kẹo thổi đắt hơn tranh đường năm tệ, nhưng cậu bé ngoại quốc đã đứng ở gian hàng của bác nhìn ngắm gần nửa tiếng đồng hồ, có lẽ đã bị choáng ngợp bởi kĩ thuật đỉnh cao của bác.

Nghĩ đến việc tay nghề của mình có thể khiến người nước ngoài ấn tượng, họa sĩ bỗng sinh ra một cảm giác tự hào dân tộc nồng nàn, thề rằng mình phải khiến cậu nhóc ngoại quốc tâm phục khẩu phục dưới tay nghề của mình thì thôi.
Corey đứng ở đây gần nửa tiếng, nghe thấy nhiều nhất là câu hỏi “Cháu muốn cái nào?” của ông chủ nên giờ cậu cũng hiểu, ngẫm nghĩ một lúc rồi chỉ vào hình con rồng phức tạp nhất trong tranh đường: “Cái này ạ.”
“Cháu chọn khéo quá, cái này khó thổi lắm đấy.” Giữa tranh đường và kẹo thổi, một cái là bản 2D, một cái là bản 3D.

Hình con rồng phải vẽ một cách phức tạp nhưng chưa chắc đã thổi ra được.

“May mà cháu gặp được bác, người ngoài không thổi được hình này đâu.”
Họa sĩ mang theo lời thề phải khiến bạn bè quốc tế nể phục, nặn viên đường thành một lỗ con con rồi đưa cho Corey: “Thổi đi.”
Corey đã nhìn thấy họa sĩ và bé gái “làm việc” với nhau nên cũng hiểu ra ngay mình phải làm cái gì, cậu ngậm cục đường, phồng má rồi bắt đầu thổi.

Đồng thời, đôi mắt xanh ấy vẫn mở to, nhìn chằm chằm viên đường dần dần thành hình, ngày một sáng hơn mà không thèm chớp mắt.
“Được rồi.” Họa sĩ cắt bỏ chỗ đường còn thừa, tìm một cây gậy lớn để gắn viên kẹo con rồng đã thành hình rồi đưa cho Corey.
Cậu nhìn que kẹo do chính mình thổi mà như thể một em bé lần đầu được nhìn thấy đồ chơi, đứng sững người trong gian hàng, nhìn đi nhìn lại que kẹo trong tay mà như đang thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật.
Bấy giờ, Trương Thiệu Kiệt cũng đã giúp em gái giành được món đồ chơi mà em khao khát, Trương Điềm hí hửng vô cùng, ôm con búp bê, thi thoảng còn tung ta tung tăng, cô vẫn còn muốn chơi thêm một ván nữa nhưng đã bị Trương Thiệu Kiệt từ chối: “Chợ đêm nhiều trò chơi lắm, em ra chỗ khác chơi đi.”
“Vâng.” Trương Điềm thấy anh mình nói có lí, ngoan ngoãn gật đầu với anh.
“Nữu Nữu, con lại đi mua kẹo thổi à?” Bỗng, giọng nói của một người phụ nữ vang lên bên tai Trương Thiệu Kiệt.
Kẹo thổi? Cậu nghĩ mình đã nghe thấy từ này ở đâu đó rồi, không kìm được ngoảnh lại nhìn thì thấy sau lưng cậu có một người phụ nữ khoảng 30 tuổi đang quở trách con gái mình, còn cô bé mũm mĩm đang cầm trong tay một que kẹo hình con heo.
“Một tuần con không ăn kẹo rồi, hôm nay con được ăn mà.” Cô bé đấu lí với mẹ.
– Con có thể ăn một viên sô cô la, nhưng không thể ăn nhiều như thế, con xem con mập đến mức nào rồi này…
“Xin lỗi ạ, cô cho cháu hỏi một chút, đây có phải tranh đường không ạ?” Trương Thiệu Kiệt lo lắng cắt lời người phụ nữ.
Người mẹ trẻ nhìn cậu, thấy hơi lạ lạ nhưng vẫn giải thích: “Đây là kẹo đường, tranh đường là vẽ ra bằng đường còn đây là thổi đường để thành hình.”
“Cô mua ở đâu vậy ạ?” Trương Thiệu Kiệt bỗng có linh cảm xấu.
“Gian kẹo đường của ông Vương ở ngã tư, ở đấy đấy.” Người mẹ trẻ chỉ vào quầy kẹo ở gần đó.
“Đấy là tranh đường chứ ạ?” Trương Thiệu Kiệt nhớ mình đã nhìn thấy biển hiệu.
“Ông Vương biết cả hai kĩ thuật, nếu cháu muốn…” Người mẹ trẻ còn chưa dứt lời thì thấy chàng trai đang nói chuyện với mình bỗng biến sắc, chạy vụt về phía trước.
Lí do Trương Thiệu Kiệt xông đến là vì khi cậu ngoảnh lại nhìn gian hàng kẹo đường, đúng lúc thấy cậu bé ôm quả bóng ngã xuống chân Corey.

Cảnh tượng này giống y như đúc lời tiên tri của chị phù thủy ở trước cửa nhà ma vào buổi sáng.


Cậu run sợ như thể có dòng điện xẹt qua người, cứ thế chạy ra mà chẳng nghĩ ngợi gì.
“Corey! Đừng nhặt quả bóng.” Cậu hét khản cả giọng, nhưng chợ đêm ồn ào quá, giọng cậu không thể vang đến tận bên ấy, chỉ có những người bạn đứng cạnh cậu mới nghe được.

Mặc dù các bạn không biết chuyện gì xảy ra, nhưng thấy Trương Thiệu Kiệt sốt ruột chạy đi như thế thì ai cũng chạy theo.

Tuy nhiên, đến khi cả hội chạy ra ven đường thì chiếc xe van đã nổ máy, phóng đi.

Trương Thiệu Kiệt chạy theo sát chiếc xe đó, nhưng làm sao cậu có thể vượt qua được con xe van đấy, thoáng chốc đã bị bỏ lại đằng sau.
“Tiểu Tuyết!” Sau lưng vang lên tiếng tri hô của Trương Điềm, Trương Thiệu Kiệt quay lại, thấy Trác Lăng Tuyết ngã gục xuống đất với gương mặt đau đớn, tay ôm chặt chân mình.
Sái chân?
Hai lời tiên tri đều linh nghiệm?
Trương Thiệu Kiệt vẫn không bỏ cuộc mà chạy về, quay lại gian hàng kẹo đường, chạy ra chất vấn họa sĩ một cách vô lí: “Bác này, bác có làm cả kẹo đường thổi nhưng tại sao lại không viết lên bảng hiệu?”
Nếu ngay từ đầu cậu biết đây là quầy kẹo thổi thì có lẽ cậu đã sực ra được rồi.
Ông Vương khó hiểu nhưng vẫn tốt tính chỉ vào bàn của mình rồi đáp: “Bác viết mà.”
Trương Thiệu Kiệt cúi đầu nhìn, nhận ra có một tấm vải đỏ phủ quanh chiếc bàn, trên tấm vải có ba chữ màu vàng lốm đốm: “Kẹo đường thổi”.

Đúng là bác có viết thật, nhưng bác viết thấp thế này, ai không để ý thì sao mà thấy được.
“Vừa rồi vị khách người nước ngoài mua của bác cái kẹo hình gì vậy?” Cậu hỏi tiếp.
“Rồng, tốn công bác phết đấy.” Ông Vương trả lời.
– Chị nhìn thấy em ấy cầm một que kẹo đường hình con rồng…
Đối mặt, phải đối mặt rồi.
Trương Thiệu Kiệt chỉ thấy người mình lạnh toát, đôi chân mềm oặt đi, ngã khuỵu xuống đất.

Bên cạnh cậu có một người bố trẻ đang cầm quả bóng dỗ dành em bé mập mạp vừa mới ngã xuống đất.
– Đừng khóc, đừng khóc, bố nhặt bóng về cho con rồi này?
“Sao quả bóng lại dính dính thế này?” Người mẹ trẻ nghi ngờ hỏi.
“Có người làm rơi que kẹo ngay gần quả bóng, chắc là vô tình bị dính vào, lau đi là được.” Người bố đáp.
Bấy giờ, bốn bạn còn lại cũng đã quay về, Trương Điềm đỡ Trác Lăng Tuyết đang đau chân, vẻ mặt của cả bốn cũng không khá hơn Trương Thiệu Kiệt là bao, hiển nhiên ai cũng nhớ đến lời tiên tri của chị phù thủy.
*
Lâm Xuân rời khỏi công viên vào lúc tám rưỡi tối, giờ này nhà ma cũng không hoạt động nữa, theo lời của Dương Đông, mặc dù giới trẻ thích tìm kiếm sự kích thích nhưng không ai đi tìm cái chết cả, sau tám giờ gần như chẳng có người nào đi chơi nhà ma hết.
Hôm nay cô cũng được bội thu, tiền quẻ kiếm được 360 tệ, điểm công đức cũng kiếm được 200 điểm, nhưng ăn tối tốn hơi nhiều, đồ ăn trong công viên vừa đắt vừa chán, một hộp cơm mà tận 89 tệ, một ly trà sữa cũng đến 29 tệ.

Lâm Xuân tức quá nên chỉ mua một hộp cơm rồi nhịn từ tối đến giờ, cô định ra ngoài ăn bữa ra trò.
Đùa chứ, 89 tệ, nếu bọn cô ra ngoài cổng bắc ở trường thì khéo đã được ăn thỏa thích ở một nhà hàng sang trọng nhất rồi.
Lâm Xuân đi tàu điện ngầm đến cổng bắc của trường, thậm chí còn ăn đến tận ba bốn quán ăn vặt, nhưng vẫn không thể ăn được hết 89 tệ, lúc về nhà còn dùng tiền thừa để mua một quả dưa hấu.
Cô ra khỏi thang máy, một tay cầm dưa hấu, một tay lục chìa khóa trong cặp, vừa mới ra ngoài thang thì trong hành lang bỗng có hai người bước tới.
– Cảnh sát!
“Bộp!” Lâm Xuân sợ hết hồn, quả dưa mới mua rơi bốp xuống đất, nước ép đỏ tươi tràn ra ngoài hành lang, thơm thoảng thoảng mùi dưa hấu.
Dưa của mình!
Nửa tiếng sau, trong cục cảnh sát thành phố, Lâm Xuân bước vào với gương mặt mịt mờ.

– Chị đấy, chú cảnh sát, đúng chị ấy đấy!
Lâm Xuân vừa bước vào đã nghe thấy nhiều giọng nói kích động hét vào mặt mình.

Cô nhìn theo tiếng nói, thấy những gương mặt quen thuộc thì sực vỡ lẽ.
Có vẻ cậu bé ngoại quốc bị bắt cóc rồi.

Lâm Xuân không quên mất chuyện này, thật ra lúc tối cô vẫn còn lo lắng, bởi vì cảnh tượng cô nhìn thấy trong quả cầu pha lê là ban đêm, cô nghĩ sự việc sắp xảy ra rồi, nhưng hệ thống mãi không vang lên lời nhắc cậu bé đã thoát khỏi xui xẻo, có phải đã xảy ra chuyện rồi hay không.
Tuy nhiên, Lâm Xuân nghĩ đến việc đối phương có thể gặp nạn nhưng không hề nghĩ rằng mình sẽ xảy ra chuyện.
Tìm cô làm gì thế?
“Cô trói con trai tôi ở đâu?” Một người đàn ông ngoại quốc mặc vest xông đến chỗ Lâm Xuân, liên tục hằm hè bằng tiếng Anh.
“Thưa ngài Grimm, ngày đừng kích động như vậy, mọi chuyện vẫn chưa được điều tra rõ ràng.” Có cách sát ngăn người đàn ông lại, sau đó nháy mắt với anh cảnh sát đã đưa Lâm Xuân tới đây.

Sau đó, Lâm Xuân bị dẫn vào phòng thẩm vấn.
Lâm Xuân lớn bằng này rồi nhưng đây là lần đầu tiên đi vào phòng thẩm vấn, cô ngồi trong phòng một lúc lâu rồi mới sực ra, tại sao mình lại phải vào phòng thẩm vấn?
“Cô tên gì? Một cảnh sát hình sự chừng 30 tuổi râu ria xồm xoàng, nom có vẻ đã không được ngủ suốt mấy ngày trời, ngồi đối diện hỏi cung Lâm Xuân.

Anh cảnh sát tên là Tương Duệ, là đội trưởng đội hình sự.
“Lâm Xuân.” Cô trả lời thành thật.
– Nói đi, tại sao lại bắt cóc Corey?
“Tôi không bắt cóc, tại sao tôi phải bắt cóc Corey?” Lâm Xuân bối rối vì bị hỏi như vậy.
“Bạn của Corey là mấy em học sinh cấp ba mà cô vừa gặp ở ngoài kia, cả nhóm nói vào khoảng 11 giờ trưa, chính cô đã nói với các em rằng Corey sẽ cầm một que kẹo đường và bị một chiếc xe van ở bên cạnh bắt cóc, đúng không?” Tương Duệ hỏi.
“Thế mấy đứa có nói tôi xem bói mà ra không?” Lâm Xuân hỏi.
“Nói như thế, chỉ xem bói thôi? Chính cô có tin không?” Tương Duệ cười khẩy.
“Nên anh không tin vào bói toán, anh nghĩ tôi là người bắt cóc, bởi vì tôi biết quá chi tiết, nên dù tôi không bắt cóc thì tôi cũng là kẻ đồng lõa?” Cô hỏi.
“Cô thừa nhận?” Tương Duệ nhìn thẳng vào cô với ánh mắt sắc bén.
“Anh có bằng chứng không?” Lâm Xuân nổi cáu, người vô tội mà bị chất vấn như thế này thì cũng quạu thôi.
– Tôi sẽ tìm được.
Cô tức chết: “Xin phép được hỏi chú cảnh sát, nếu tôi muốn bắt cóc Corey, tại sao tôi lại nói trước sự việc cho các em ấy biết? Hơn nữa, tôi bảo mấy đứa sẽ mua kẹo đường, thế là mấy đứa đi mua kẹo luôn à? Với cả, tôi không chỉ bói mỗi chuyện này, tôi còn bói cho cả một em gái sẽ bị trẹo chân.

Cứ coi như bắt cóc có thể tạo dựng được, thế xin hỏi tôi làm cách nào để khiến em gái đó bị sái chân? Em ấy là đồng mưu của tôi à?
Lúc Lâm Xuân bước vào, mấy em học sinh đã kích động đứng lên, nhưng có một cô gái vẫn ngồi trên ghế.

Cô đoán đó là cô bé mà cô đã bói rằng sẽ bị trẹo chân.

Cô không nhớ rõ tên nhưng cô vẫn nhớ kết quả xem bói.
Tương Duệ sững người trước câu hỏi của cô, đúng là khi hội Trương Thiệu Kiệt đến đây báo án cũng đã nói rằng mấy đứa bỗng muốn đi chợ đêm, nghĩa là lúc đi xem bói ở nhà ma, mấy đứa không hề định đi chợ đêm.

Với lại, cô bé Trác Lăng Tuyết bị trẹo chân cũng bị đuổi theo chiếc xe van.

Thậm chí, khi xem bói còn đề cập đến một vài chi tiết, ví dụ như người ngã xuống đất là một bé trai, Corey mua kẹo thổi hình con rồng, đó là những chi tiết qua nhỏ, không thể tạo dựng được, hơn nữa cũng không cần thiết phải bố trí những chi tiết này.
Nhưng xem bói… lại càng khó xảy ra.
“Vả lại, anh ra công viên hỏi mà xem, cả ngày hôm nay tôi chỉ có ở công viên, vừa mới tan làm về nhà, hơn nghìn người có thể làm chứng cho tôi.” Lâm Xuân nói.
“Kẻ bắt cóc đâu nhất thiết phải là cô?” Tương Duệ tiếp tục tra hỏi.
“Thế xin hỏi anh tôi có tác dụng gì, báo cho người bị bắt cóc là tôi muốn bắt cóc cậu ta à?” Cô hỏi ngược lại.
Tương Duệ lại bị hỏi đến đơ người, nói thật, anh cũng thấy chuyện này rất kì lạ.

Nhưng cậu bé ngoại quốc bị bắt cóc có thân phận đặc biệt, cha cậu là ông chủ của một công ty đa quốc gia, được người người nể trọng, sự việc cậu bị bắt cóc đã kinh động đến Bộ Ngoại giao, cấp trên ban lệnh phải khẩn trương giải quyết vụ án càng nhanh càng tốt.

Tuy nhiên, ngoài biển số xe ra, mọi người không nhận thêm được một manh mối nào, manh mối duy nhất là lời xem bói của Lâm Xuân nên đành phải dẫn cô đến đây để hỏi cung.
Dò hỏi, trừ kẻ bắt cóc ra thì có ai lại biết được cặn kẽ đến mức này? Nhưng cớ gì kẻ bắt cóc lại phải nói cho người bị hại biết kế hoạch kĩ càng của mình?
Ngay khi cuộc thẩm vấn rơi vào bế tắc, điện thoại của Tương Duệ bỗng đổ chuông, anh đang định tắt máy ngay, nhưng thấy tên người gọi hiển thị trên màn hình thì đã đứng dậy đi ra ngoài.

“Cố vấn Sở.” Tương Duệ kích động: “Bao giờ anh về, tôi đang có vụ án…”
“Các anh bắt Lâm Xuân?” Một giọng nói bình tĩnh đã ngắt lời anh.
“Ừ.” Anh sững lại, mặc dù không rõ vì sao cố vấn Sở lại biết anh bắt người nhưng anh vẫn trả lời thành thật.
– Cô ấy không phải kẻ bắt cóc, thả ra đi.
– Nhưng cô ấy rất đáng nghi, biết quá nhiều chi tiết, vả lại không giải thích rõ ràng, thậm chí còn nói mình biết xem bói.
“Thế chẳng lẽ cô ấy làm thật à?” Cố vấn Sở hỏi ngược lại.
Tương Duệ sửng sốt, nếu người khác nói câu này thì anh chắc chắn sẽ phản bác, nhưng đây lại là Sở Liên Thanh, một người chỉ cần đọc hồ sơ tội phạm là đã vẽ ra được chân dung của hung thủ.

Không những vậy, bức tranh anh ấy vẽ ra gần như giống tội phạm như đúc.
“Khiêm nhường với người ta đi, có lẽ cô ấy sẽ giúp anh bói ra được kẻ bắt cóc đang ở đây đấy.” Sở Liên Thanh nói tiếp.
– Anh không nói đùa đấy chứ?
Đối phương không trả lời mà cúp máy ngay.
Ngay lúc Tương Duệ đang nghiền ngẫm câu nói của Sở Liên Thanh thì có một người cảnh sát chạy vào, nói nhanh: “Đội trưởng Tương, kẻ bắt cóc gọi điện tới rồi.”
Tương Duệ giật mình, chạy ngay ra ngoài.
Lâm Xuân ngồi một mình trong phòng thẩm vấn, bắt đầu rơi vào tình trạng nghi ngờ bản thân sâu sắc.
Mình có lòng xem bói giúp người ta, nhắc nhở nạn nhân rằng có thể họ sẽ gặp nạn, ai dè lại biến mình thành nghi phạm, rốt cuộc là sao chứ.

Thà xem bói bảo người ta giẫm phải cứt chó rồi hóc xương cá còn hơn, vẫn kiếm được nhiều điểm công đức, còn không dính phải rắc rối.
Lần sau còn gặp phải quả xem bói phiền phức như này, cô sẽ… cũng không thể mặc kệ được.
Haizzz, phiền chết mất.
Nhưng thanh giả tự thanh mà, dù gì mình cũng là thành viên của tổ chức chính phủ, trợ lí Đàm chắc chắn sẽ cứu mình.
Nghĩ vậy, Lâm Xuân đã bình tĩnh hơn, mà vừa nãy ăn no quá, giờ ngồi chán chết thế này thì bắt đầu mệt mỏi, mơ màng tựa vào ghế ngủ thiếp đi.

Thành ra, đến khi Tương Duệ nghe xong cuộc điện thoại của tên bắt cóc rồi quay về phòng thì Lâm Xuân đã ngủ được một giấc rồi.
“…” Dù không phải kẻ bắt cóc, nhưng một người bình thường cũng không thể ngủ trong hoàn cảnh như thế này được.
“Dậy đi.” Tương Duệ định vỗ vào bàn để gọi cho dậy, nhưng nhớ đến lời Sở Liên Thanh bảo anh phải khiêm nhường với cô, ma xui quỷ khiến nên anh đã đi đến, vỗ nhẹ vào cánh tay Lâm Xuân.
“Hả?” Lâm Xuân mơ màng tỉnh giấc, nhìn thấy Tương Duệ thì bất lực: “Tôi không bắt cóc thật mà, tôi phải làm sao thì anh mới tin đây?”
Cô rất sợ cảnh sát sẽ bắt cô đủ 48 tiếng đồng hồ, ở đây quá khó chịu, ngủ cũng chẳng được thoải mái.
“Nếu cô chứng minh được cô biết xem bói thật thì tôi sẽ tin cô.” Tương Duệ nói.
Lâm Xuân nhìn anh: “Chứng minh kiểu gì?”
“Bói xem kẻ bắt cóc đang ở đâu.” Tương Duệ đáp.
Cô sững lại, sau đó đã ngồi ngay ngắn trở lại.
– Anh cảnh sát này, anh bắt sai tôi, coi tôi là kẻ bắt cóc, bây giờ lại muốn tôi xem bói cho anh, sau đó đi bắt hung thủ giúp anh à? Để làm gì cơ, tôi là đứa ngu à?
“Khụ…” Tương Duệ cũng thấy mình đang bắt nạt người khác: “Cô đừng nghĩ như thế, cô đang chứng minh bản thân mình trong sạch thôi.”
“À~” Lâm Xuân cười khẩy: “Để có chứng cứ bắt tôi thì có.”
Trông cô dễ bị ức hiếp như vậy hả? Cô không thèm cái kiểu này đâu, tưởng cô không biết giận à.
– Cô đừng kích động như thế.
“Sao tôi không thể kích động được? Tôi làm việc cả ngày, vất vả lắm mới mua được quả dưa hấu về nhà, đang định xem phim thì đã bị các anh bắt đến đây, còn làm rơi cả dưa của tôi nữa.” Bây giờ dưa vẫn đang nằm ngoài hành lang, ngày mai cô lao công chắc chắn sẽ mắng cô không biết giữ gìn vệ sinh công cộng.
“Đội trưởng Tương.” Cửa phòng thẩm vấn bỗng bị mở ra, một người cảnh sát trẻ bước vào, nói với Tương Duệ: “Có diễn biến mới.”
Sài Phổ Tâm, nam, 25 tuổi, hi sinh vì nhiệm vụ.
Lâm Xuân ngừng thở, ánh mắt nhìn chằm chằm người cảnh sát trẻ: “Anh…”
Tương Duệ đang định đứng dậy rời đi thì thấy nét mặt Lâm Xuân biến sắc, hỏi trong vô thức: “Cậu ấy làm sao?”
Lâm Xuân rất bực mình vì bị đưa vào phòng thẩm vấn rồi hỏi cung một cách bừa bãi, nhưng cũng không thể im lặng khi thấy người ta gặp nguy hiểm đến tính mạng được.

Huống hồ, anh cảnh sát hi sinh vì nhiệm vụ mới chỉ 25 tuổi.
Cô không đành lòng, nhưng cô vừa mới làm giá…
“Muốn tôi xem bói cũng được, một lần 10 nghìn tệ.” Tăng tiền quẻ cho anh gấp một nghìn lần, khiến anh phải trả giá.
10 nghìn tệ? Vừa nãy tên bắt cóc còn đòi 10 triệu tệ.
Tương Diệu xóa bỏ hiềm nghi với Lâm Xuân, cách đòi tiền thế này thì chắc chắn không phải kẻ bắt cóc rồi..