Ron dùng ba ngày để vòng vèo thăm thú các khu thương mại trong thị trấn Salem. Đúng như Pot mô tả, thị trấn Salem đại diện cho nước cộng hòa Frei về sự trọng thị và phồn hoa về thương nghiệp. Cả thị trấn có bốn khu thương mại lớn và bảy khu thương mại nhỏ. Các khu thương mại lớn phân biệt nằm ở bốn hướng đông tây nam bắc, có đường lớn dẫn thẳng tới các cửa thành, và là khu bán buôn của giới lái buôn lớn. Các khi thương mại nhỏ phân bố trong các khu dân cư, hoặc nói đúng hơn là các khu dân cư lấy các khu thương mại nhỏ này làm trung tâm để phát triển. Trong mỗi khi thương mại lại phân ra khu vực bán chuyên và khu vực bán tạp. Khu vực bán chuyên chủ yếu phân thành cách ngạch hàng hóa phổ biến là: Quần áo, trang phục; thực phẩm, lâm thổ sản; hàng tiêu dùng, gia cụ; vũ khí, công cụ luyện kim; và một khu đặc biệt cho hàng xa xỉ và nguyên liệu quý. Khu vực bán tạp thì bán đủ thứ đồ thượng vàng hạ cám, quy mô hàng sạp nhỏ hơn nhiều so với khu bán chuyên, nhưng đông đúc nhộn nhịp hơn. Quản lý khu vực này là người của hiệp hội lính đánh thuê Taurus. Họ có các bót trực khắp nơi và những tiểu đội tuần tra thường xuyên các khu vực, đảm bảo việc buôn bán được giữ ổn định và ngăn chặn sớm các tranh chấp. Thậm chí mỗi khu thương mại còn có một phòng y tế cấp cứu có người trực, đương nhiên có thu phí.
Sát các khu thương mại thường là những tòa nhà lớn của giới bán buôn giàu có, hoặc các tổ chức đánh thuê nhỏ, những khách sạn, nhà trọ cho con buôn lẻ hoặc các kho hàng. Xa hơn mới là khu vực nhà cửa của tầng lớp bình dân.
Các khu thương mại cũng có đường dẫn trực tiếp tới trung tâm thị trấn. Ở trung tâm thị trấn cũng có Psy như thôn Tuktuk, nhưng quy mô to lớn hơn. Thay vì có tòa nhà trung tâm thôn, ở trung tâm thị trấn Salem là đại bản doanh hiệp hội đánh thuê Taurus, các tòa nhà hành chính sự nghiệp và một giáo đường kiêm bệnh viện công.
Giáo dục không phải là quyền cơ bản được bảo hộ ở cộng hòa Frei, mà có các trường học tư quy mô khác nhau với học phí tương ứng với chất lượng giáo dục. Nội dung giảng dạy về cơ bản cũng dựa trên giáo điển, nhưng có chút thay đổi tùy trường. Nói chung phổ cập giáo dục bị thả nổi, ai có điều kiện thì cho con cái theo học lên cao, ai không có hoặc không chú trọng thì thôi.
Lực lượng công quyền và hành chính ở Frei nói chung và Salem nói riêng đa phần đều là kiêm nhiệm từ các hiệp hội lính đánh thuê, mà cụ thể ở Salem là Taurus. Một số cơ quan đặc thù thì là viên chức chính phủ cộng hòa ví dụ như giáo đường, lực lượng binh lính đồn trú quản lý Psy, trấn trưởng và nhân viên thần chức. Tuy nhiên họ cũng có quan hệ khăng khít với Taurus. Có thể nói, cộng hòa Frei có mô hình giống như thể chế phong kiến phân quyền, và các gia tộc nắm giữ nhũng thế lực lính đánh thuê là các đại quý tộc có những địa bàn hoạt động như kiểu lãnh địa riêng.
Ngoại trừ bốn gia tộc trong đó có Taurus có thực lực mạnh nhất, Frei còn có nhiều thế lực đánh thuê và thương gia nhỏ hơn, cũng có tiếng nói trong các quyết sách chung của đất nước, nhưng tầm ảnh hưởng nhỏ hơn nhiều. Bọn họ không có những địa bàn độc quyền như kiểu thị trấn Salem hoàn toàn nằm dưới sự quản lý hiệu quả của Taurus, mà họ cần cạnh tranh nhau để giành quyền ảnh hưởng lên các địa phận. Tuy nhiên đặc điểm chung của tất cả các thế lực này là thái độ của họ đối với thần quyền – chính là giáo đình elf. Bọn họ công nhận nhiều điểm trong giáo điển cũng như công lao của các elf đại năng giáo hóa loài người, nhưng họ không muốn chịu sự ảnh hưởng và san sẻ quyền thống trị lên địa bàn của mình cho giáo đình. Lý do của họ là elf không phải loài người, họ không muốn trông giống như bị thống trị bởi chủng tộc khác. Dưới sự chi phối của tư tưởng này, mô hình đế quốc cổ đại thần quyền sụp đổ, và dẫn đến sự hình thành nhà nước cộng hòa Frei, khoảng một trăm năm trước. Tuy vậy, dấu ấn của giáo đình vẫn rất phổ biến trong toàn thể người dân của Frei. Đơn giản vì họ cần sự hỗ trợ của giáo đình để chống lại các mối nguy từ các chủng tộc khác – Psy.
Ron đi ngắm nghía cẩn thận từng gian hàng, từng địa điểm mua bán, trao đổi, giao dịch của các loại hàng hóa, và cả các thủ tục hành chính như thuê quầy, nộp tô, tiêu chuẩn hàng hóa, tìm hiểu sơ sức mua sức bán v.v.. nói chung hắn góp nhặt mọi tin tức có thể thu được, thông qua việc giao tiếp thâm nhập sâu vào thị trường chợ búa của thị trấn Salem. Tin tức thu được hắn ghi chép cẩn thận vào sổ, sau đó về nhà nghiên cứu.
Sau khi cảm thấy tương đối thỏa mãn với thông tin mình năm được, Ron lại xách kiếm và dụng cụ ra khỏi trấn, đi thẳng vào rừng Nâu.
Rừng Nâu là một trong những nguồn khai thác lâm thổ sản lớn nhất của loài người. Ranh giới của nó kéo dài từ chân dãy núi Spike, kéo ngang qua biên giới cộng hòa Frei, đế quốc Sala, đến tận khu vực Biển Nội. Loài người chỉ dám đặt chân lên kiếm ăn trên khoảng một phần ba diện tích rìa của nó, nhưng chừng đó cũng đủ để các quốc gia có biên giới giáp rừng Nâu phát triển phồn thịnh, tới mức hỗn loạn và phân rã. Thị trấn Salem là một trong những tiền đồn thâm nhập rừng Nâu tốt nhất từ phía công hòa Frei. Sản vật mà con người có thể thu được từ nó rất phong phú. So với khu bìa rừng giáp thôn Tuktuk thì phong phú hơn, do khu vực an toàn ở đây rộng lớn hơn. Phải đi sâu vào rừng khoảng nửa tháng thì mới có thể xâm nhập đến khu vực nguy hiểm cao.
Việc đi săn ở đây cũng rất khác với đế quốc Si, do chính sách không quản lý chặt chẽ thợ săn của cộng hòa Frei. Thành phần vào rừng kiếm ăn cũng đủ loại, từ lính đánh thue làm nhiệm vụ, nhà mạo hiểm độc lập, cho đến cả những người buôn bán làm dịch vụ hậu cần. Cơ quan công quyền ở Frei chỉ quan tâm việc thu tô và phí
Ron vào rừng săn bắn khoảng một tuần, và trở về với một bao tải to đùng sau lưng, to không kém đống hành lý hắn mang theo lần đầu vào thị trấn, bên trong toàn bộ là các loại thịt rừng cũng như rau củ gia vị hắn sưu tập được. Sau khi đóng phí vào thành, Ron trở lại nhà, và bắt đầu công tác chế biến các món thịt rừng hắn săn được.
Trong số các lọai thịt rừng hắn đem về, có nhỏ như thỏ gió, gà rừng lông trắng, có to như đùi nai, lợn lòi, và có cả mấy khoanh đùi bò rừng. Điều này chứng tỏ Ron săn được rát nhiều mồi trong một khoảng thời gian ngắn. Hiệu suất săn bắn của hắn bằng cả một tiểu đội thợ săn bình thường.
Ron sử dụng kỹ năng thần lực để ướp, nướng, sấy, giã trong việc chế biến thịt. Nếu người bình thường nhìn vào có lẽ sẽ rất ngạc nhiên về điều này, bởi hầu như chẳng ai làm như Ron. Cho dù ở trong khu vực bao phủ của Psy, người bình thường cũng không ai muốn phung phí ma lực nội tại để làm những việc thông thường như chế biến thức ăn. Chỉ có một số trường hợp các ma pháp sư mới tiện tay sử dụng ma pháp để làm việc vặt, ví dụ Tia thi thoảng dùng nó đểm hâm lại sữa, đồ ăn hay dọn rác. Lý do là vì các ma pháp sư có kỹ năng sử dụng ma lực hiệu quả hơn người thường và quan trọng là có tốc độ hồi phục ma lực trong khu vực có Psy nhanh hơn rất nhiều. Họ sẽ không đến nỗi đun xong ấm nước mà rơi vào trạng thái cạn ma lực và cần nghỉ ngơi cả tiếng đồng hồ để hồi phục sức khỏe. Bản thân việc cạn ma lực không phải điều nghiêm trọng, nhưng nó đi kèm với trạng thái kiệt sức nhất thời và choáng nhẹ rất khó chịu. Chỉ rất ít người có thiên phú mới sử dụng kỹ năng thần lực làm việc nhà lặt vặt để luyện tập, ví dụ như Han luyện tập khi ở nhà không săn bắn, nhưng cũng không nhiều.
Ron chế biến ra vài loại thực phẩm khác nhau: Thịt muối ướp gia vị nướng mọi, xúc xích, thịt khô xé bông, v.v.., toàn bộ là những thứ có thể dùng để ăn vặt hoặc ăn chung với ngũ cốc, hợp với nhắm bia hoặc rượu chát.
Hai ngày sau, khi toàn bộ các món thực phẩm đã hoàn thiện hắn đóng gói chúng cẩn thận, rồi đem một vài mẫu thử đến quán Đầu Lợn.
- Chào cậu Ron, mấy ngày không gặp, cuộc sống ở đây đã đi vào ổn định chứ? Có gặp phiền toái gì không?
- Ông nhớ khách hàng tốt thật đấy.
- Đặc thù nghề nghiệp thôi, với lại cậu cũng tương đối đặc biệt.
- Lần trước tôi ăn thử vài món thức ăn quán phục vụ, thấy chất lượng có vẻ tệ.
- ...
- Tôi có làm mấy món thịt đặc sản ở quê, ông nếm thử xem.
- (nhắm nhắm)... uhm, mùi vị không tệ. Món thịt khô này của cậu ngon và thơm thật. Cậu dùng nguyên liệu từ quê cậu để tẩm ướp à?
- Không, cũng là các loại gia vị thường thấy thôi, tôi thu nhặt chúng trong rừng Nâu.
- Cậu vào rừng săn bắn à? Uhm cũng đúng, tôi nghĩ cỡ cậu thì đi dạo trong rừng cũng không có vấn đề gì lớn. Cậu muốn xin vào quán tôi làm đầu bếp?
- Không. Tôi định bán những thứ này.
- Với chất lượng này thì có thể bán được giá tốt đấy. Cậu định bán bao nhiêu?
- Giá món đùi heo nướng muối của quán ông, giảm một phần ba.
- ... cạnh tranh trực tiếp với quán tôi à?
- Không, đó là giá tôi định bán cho ông. Tôi sẽ mở cả một sạp ở trung tâm thương mại Đông Phương nữa, giá bằng với giá món đùi heo của quán ông. Coi như ông được chiết khấu một phần ba.
- Giá được đấy. Cậu hiện có bao nhiêu thịt thà?
- Xúc xích nai mười ký. Đùi bò rừng khô mười lăm ký. Thịt muối ướp gia vị nướng mọi mười ký, gồm thịt thỏ và thịt gà rừng. Đùi heo khô xé bông cay hai mươi ký. Tôi định bán cho ông tối đa một nửa mỗi thứ. Chúng tương đối dễ bảo quản, chỉ cần để nơi khô thoáng, để khoảng một tháng không vấn đề, trừ thịt muối ướp gia vị nướng, cần bọc cẩn thận và để được khoảng mười ngày trước khi biến vị.
- Chúng nó đều đồng giá?
- Cho đơn giản.
- Được, tôi lấy mỗi thứ một nửa số lượng. Tổng cộng là... (lôi bàn tính ra tính toán)... hai mươi bảy ký rưỡi. Đơn giá một trăm cắc Frei một ký chiết khấu một phần ba... số lẻ quá khó tính thật (mồ hôi mồ kê gảy gảy bàn tính)
- Làm chẵn một nghìn tám trăm cắc Frei.
- ...(tính toán thêm một lúc)... ồ, được, vậy tính một nghìn tám trăm cắc Frei. Tôi mời cậu một ly rượu táo.
- Cảm ơn.
- Xem ra cậu không phải lo nhiều về tài chính nhỉ. Cậu mà ở lại làm lâu dài kinh doanh kiểu này thì cũng sớm mua được nhà riêng và cưới một cô vợ đấy.
- Tôi chỉ kiếm chút ít để trang trải chi phí sinh hoạt thôi. Mục đích chính hiện tại của tôi vẫn là đi du lịch.
- Ồ. Thật đáng tiếc cho các cô gái thị trấn Salem, không có cơ hội sánh duyên với một người giỏi giang như cậu. Haha.
Rời quán rượu, Ron đi đến trung tâm thương mai Đông Phương, đăng ký một sạp bán thực phẩm tại đó. Quá trình xét duyệt và thủ tục tương đối nghiêm chỉnh, hắn phải khai báo đày đủ những mặt hàng hắn bày bán, trình giấy thuê nhà, trình và đóng dấu buôn bán nhỏ lên thẻ vào thành, đóng phí một trăm cắc Frei cho mỗi ngày bày sạp bán, với quy mô sạp thuộc loại nhỏ, kèm theo cam kết tuân thủ nội quy buôn bán của khu thương mại Đông Phương.
Khung, tủ, mái che của sạp được hỗ trợ, nhưng bảng hiệu và bày biện do Ron tự chế tác xử lý.
Hắn lấy tên cho sạp là „Tuktuk đặc sản", kế bên hắn ghi chú "Cửa hàng đồng giá. Mười cắc Frei hoặc ba đồng tiền đế quốc Si một gói đặc sản. Ăn ngay hoặc đem về nhà chế biến. Bán theo gói một lạng."
Trên mỗi loại thực phẩm Ron đều chi chú tên, nguyên liệu chế biến, cách dùng. Chúng được phân sẵn thành từng gói trong bọc lá, có thể mở ra vừa đi vừa ăn.
Ron chỉ mở sạp bán vào hai giờ cao điểm của trung tâm thương mại, là buổi sáng sớm và buổi xế chiều trước khi trời trở tối, sáng sớm dòng người đi vào trung tâm rất nhộn nhịp và có xu hướng mua một ít đồ ăn vặt, còn xế chiều là giờ mọi người chuẩn bị ăn tối, hoặc về nhà làm bữa tối. Ngoài các giờ này, Ron đóng sạp, đi lang thang thăm thú các nơi trong thị trấn và quan sát mọi người sinh hoạt và giao tế với nhau.
Ron tốn khoảng ba đến bốn ngày để bán hết hàng, sau đó lại đi vào rừng Nâu săn thú, về nhà chế biến, rồi lại đem bán, một tháng hai vòng lặp như vậy. Thu nhập của hắn loanh quanh chín nghìn cắc Frei, và phải đóng phí ra vào thành vài lần cùng với tiền thuê nhà khoảng hơn bốn nghìn cắc, còn dư lại năm nghìn cắc để tiêu vặt. Ron cũng không keo kiệt tiết kiệm. Hắn thăm thú khắp nơi, gặp gì hay lạ thì mua về dùng thử, thành ra mỗi tháng chỉ dư lại tầm một nghìn cắc Frei. Hắn sinh hoạt như vậy liên tục ba tháng. Trong thời gian đó, hắn thường xuyên ghé quán rượu Đầu Lợn nói chuyện phiếm với lão Pot, nhân tiện quen một số người ở quán, cũng như làm thân quen biết với những đồng nghiệp tại khu trung tâm thương mại Đông Phương.