Chết khát

“Okay! Cô đã đúng, cô đã đúng!” tôi nói to những từ đó lên. Chẳng có ai ở quanh để mà nghe thấy tôi.

Melanie không nói “tôi đã bảo rồi mà.” Không nhiều lời như thế. Nhưng tôi có thể cảm nhận được sự oán trách trong câm lặng của cô ấy.

Tôi vẫn không sẵn lòng bỏ rơi chiếc ô tô, mặc dù giờ đây nó đã thành thứ vô dụng. Khi hết xăng, tôi đã để cho nó lăn tới trước với quán tính còn lại cho đến khi nó chúi mũi vào một cái hố nông – một cái rãnh sâu còn lại từ cơn mưa lớn gần nhất. Bây giờ tôi nhìn đăm đăm ra ngoài cửa xe vào khoảng trống vô tận, chẳng có gì hết và cảm thấy dạ dày mình xoắn lại vì sợ.

Chúng ta phải đi thôi, Wanderer. Trời sẽ chỉ càng nóng hơn mà thôi.

Nếu tôi đã không lãng phí hơn một phần tư bình ga ngoan cố lao đầu vào chân núi của cột mốc thứ hai – chỉ để thấy rằng từ đó không thể nào nhìn thấy được cột mốc thứ ba và phải quay lại để lần lại dấu vết từ đầu – thì chúng tôi chắc hẳn đã đi được xa hơn xuống con rạch cát, và gần điểm đến của chúng tôi hơn nhiều. Nhờ có tôi, chúng tôi bây giờ đang phải cuốc bộ.

Tôi nhét mấy bình nước, từng bình một, vào trong ba lô, cử động khoan thai không cần thiết; tôi cũng chậm rãi cho thêm những thanh granola còn lại vào. Suốt trong lúc đó, Melanie nhức nhối muốn tôi nhanh tay lên. Sự sốt ruột của cô ấy khiến tôi khó mà nghĩ được gì, khó mà tập trung vào bất cứ cái gì được. Ví dụ như là cái gì sẽ xảy ra cho chúng tôi.

Nhanh lên, nhanh lên, nhanh lên nào, cô ấy lải nhải cho đến khi tôi lảo đảo cứng ngắc và kì cục, bước ra khỏi ô tô. Lưng tôi đau khi đứng thẳng dậy. Nó đau vì giấc ngủ không thoải mái đêm qua, chứ không phải vì sức nặng của cái ba lô; cái ba lô không nặng lắm khi tôi dùng hai vai để nâng nó lên.

Giờ che phủ cái ô tô đi, cô ấy hướng dẫn, mường tượng ra cảnh tôi ngắt những cành cây gai góc của mấy cây creosote và cây bụi[1] gần đó và trải chúng trên phần cốp xe màu bạc.

“Tại sao?”

Giọng điệu của cô ấy ám chỉ rằng tôi khá là ngu ngốc nên mới không hiểu. Để không ai tìm được chúng ta.

Nhưng nếu tôi muốn được tìm thấy thì sao? Nhỡ chẳng có gì ngoài đó ngoài cái nóng và bụi cát thì sao? Chúng ta chẳng có cách nào để về nhà cả!

Nhà? Cô ấy hỏi, ném cái hình ảnh chẳng vui vẻ gì vào tôi: căn hộ trống không ở San Diego, biểu hiện đáng ghét nhất của Người truy tìm, cái điểm chấm đánh dấu Tucson trên bản đồ… và một hình ảnh nháng qua, hạnh phúc hơn của một hẻm núi màu đỏ vô tình lọt vào. Nơi đó có thể là đâu nhỉ?

Tôi quay lưng lại chiếc ô tô, lờ đi lời khuyên của cô ấy. Tôi đã đi quá xa mất rồi. Tôi sẽ không từ bỏ mọi hi vọng để trở về. Có lẽ ai đó sẽ tìm thấy chiếc ô tô và rồi tìm thấy tôi. Tôi có thể dễ dàng và thành thực giải thích điều tôi đang làm ở đây với bất kì người nào tới giải cứu: Tôi đã bị lạc. Tôi lạc đường, mất kiểm soát… mất trí.

Đầu tiên tôi đi theo con rạch, để cho cơ thể mình rơi vào nhịp điệu sải bước dài của cơ thể. Đó không phải là cách tôi bước đi trên vỉa hè từ nhà tới trường đại học và ngược lại – đó chẳng phải là bước chân của tôi nữa. Nhưng nó hợp với địa hình lởm chởm ở đây và giúp tôi di chuyển về phía trước nhanh nhẹn hơn với một tốc độ khiến tôi ngạc nhiên cho đến khi tôi quen với nó.

“Nếu tôi đã không đi con đường này thì sao?” tôi tự hỏi khi đi xa hơn vào vùng hoang mạc rỗng không. “Nếu Người hàn gắn Fords vẫn còn ở Chicago thì sao? Nếu con đường của tôi không mang chúng ta tới gần họ thì sao?”

Chính là sự khẩn thiết, sức quyến rũ của cái ý nghĩ rằng Jared và Jamie có thể ở ngay đây, một chỗ nào đó trong cái vùng đất trống rỗng này đã khiến tôi khó mà từ chối được cái kế hoạch vô nghĩa này.

Tôi không biết, Melanie thừa nhận. Tôi nghĩ có thể tôi vẫn cố làm gì đó, nhưng tôi sợ hãi khi những linh thể khác ở gần. Tôi vẫn còn sợ. Tin tưởng có thể giết chết cả hai người bọn họ.

Chúng tôi cùng rúm người lại trước cái ý nghĩ ấy.

Nhưng ở đây, gần như thế này… Có vẻ như là tôi đã cố. Làm ơn – và đột nhiên cô ấy cầu xin tôi, van nài tôi, không còn chút căm ghét nào trong những ý nghĩ của cô ấy nữa – xin đừng sử dụng điều này để làm đau họ. Xin cô.

“Tôi không muốn… Tôi còn không biết tôi có thể làm tổn thương họ hay không. Tôi thà…”

Thà gì? Tự tử ư? Còn hơn là giao nộp một nhúm người chống đối cho Những người truy tìm?

Một lần nữa chúng tôi rúm người trước cái ý nghĩa ấy, nhưng sự bốc đồng của tôi trước ý tưởng đó an ủi cô ấy. Và nó làm cho tôi sợ nhiều hơn là an ủi cô ấy.

Khi con rạch bắt đầu vòng quá xa về hướng bắc, Melanie gợi ý là chúng tôi nên quên con đường bằng phẳng, xám xịt đó đi và đi thẳng tới cột mốc thứ ba, đỉnh núi phía đông trông như là đang chỉ thẳng lên bầu trời không mây vậy.

Tôi không thích rời khỏi con rạch, cũng y như lúc tôi phản đối việc bỏ rơi chiếc xe vậy. Tôi có thể đi dọc theo hết con rạch này để trở về với đường mòn, và từ đường mòn về tới xa lộ. Nó sẽ kéo dài hàng dặm đường, và tôi sẽ phải mất vài ngày lội bộ, nhưng một khi tôi bước ra khỏi con rạch này thì tôi đã chính thức trôi giạt.

Hãy có lòng tin, Wanderer. Chúng ta sẽ tìm thấy Bác Jeb, hoặc là bác ấy sẽ tìm thấy chúng ta.

Nếu ông ấy vẫn còn sống, tôi nói thêm, thở dài và nhảy ra khỏi con đường đơn sơ của tôi vào trong đám cây bụi mà nhìn từ hướng nào cũng thấy giống hệt nhau. Lòng tin không phải là một khái niệm thân thuộc lắm với tôi. Tôi không biết tôi có dự phần trong đó được không? Vậy thì, tin cậy nhé? Vào ai? Cô à? Tôi cười. Không khí nóng nực sấy khô cổ họng tôi khi tôi hít vào.

Chỉ cần nghĩ là, cô ấy nói, thay đổi đề tài, có lẽ chúng ta sẽ gặp họ vào tối nay.

Niềm khao khát thuộc về cả hai chúng tôi; hình ảnh khuôn mặt của họ, một người đàn ông, một cậu bé, tới từ kí ức của cả hai chúng tôi. Khi tôi bước đi nhanh hơn, tôi không chắc là tôi hoàn toàn chỉ huy cái cử động ấy.

Trời ngày càng nóng hơn – rồi nóng hơn nữa, và vẫn còn nóng hơn nữa. Mồ hôi làm tóc tôi dính chặt vào đầu và khiến cái áo thun màu vàng nhạt của tôi bám dính một cách khó chịu lấy bất kể chỗ da nào nó chạm tới. Vào buổi chiều, làn gió cháy da cháy thịt nổi lên, thổi cát vào mặt tôi. Không khí khô héo hút hết mồ hôi, làm tóc tôi rối bù với những hạt cát, và thổi khô áo thun để nó không bám vào người tôi nữa; chiếc áo bay cứng đờ y như tấm bìa cạc tông dính muối rang. Tôi vẫn đi tiếp.

Tôi uống thường thường xuyên hơn mong muốn của Melanie. Cô ấy bực bội với mỗi một ngụm nước tôi uống, đe dọa tôi rằng chúng tôi sẽ cần nó nhiều hơn nhiều vào ngày mai. Nhưng ngày hôm nay tôi đã cho cô ấy quá nhiều thứ đến nỗi tôi không ở trong tâm trạng muốn lắng nghe. Tôi uống khi nào tôi thấy khát, mà gần như lúc nào tôi cũng khát.

Hai chân tôi đi lên phía trước mà tôi không cần phải nghĩ gì. Âm thanh lạo xạo của bước chân tôi là nhạc nền, chậm chạp và chán ngắt.

Chẳng có gì để nhìn; một bụi cây uốn éo, khô khốc này giống hệt một cái khác. Sự đồng điệu trống rỗng ru tôi vào một kiểu mê mụ - tôi chỉ thực sự ý thức được hình dáng của bóng núi in trên nền trời nhạt màu, trắng lóa mà thôi. Cứ vài bước tôi lại quan sát đường viền của chúng, cho đến khi tôi biết chúng rõ đến độ tôi có thể nhắm mắt cũng vẽ ra được.

Cảnh vật như thể bị đông cứng tại chỗ. Tôi liên tục xoay đầu các hướng, quan sát cột mốc thứ tư – một đỉnh núi hình mái vòm rộng với nửa đường cong ở một bên bị mất mà chỉ đến sáng hôm nay Melanie mới cho tôi xem – như thể sợ khung cảnh sẽ thay đổi từ lần cuối cùng tôi nhìn nó. Tôi hi vọng đây chính là dấu vết cuối cùng, bởi vì chúng tôi đã rất may mắn mới đi xa được đến thế. Nhưng tôi có cảm giác là Melanie vẫn đang giữ kín điều gì đó, và điểm cuối của cuộc hành trình của chúng tôi còn xa lắm mới tới.

Tôi đã ăn vội ăn vàng mấy thanh granola của tôi trong chiều nay, đến lúc nhận ra chúng là những thanh cuối cùng thì đã quá muộn.

Khi mặt trời lặn, màn đêm phủ xuống cũng nhanh như ngày hôm qua. Melanie đã sẵn sàng, đã bắt đầu thám thính một điểm dừng.

Ở đây, cô ấy bảo tôi. Chúng ta sẽ muốn ở càng xa mấy cây xương rồng càng tốt. Cô lăn lộn trong lúc ngủ.

Tôi nhìn những cây xương rồng có vẻ mềm mại trong ánh sáng lịm dần, có quá nhiều tua rua trắng dày bao quanh đến nỗi trông như là lông thú, và rùng mình. Cô muốn tôi chỉ việc ngủ trên mặt đất ư? Ngay ở đây á?

Cô thấy có lựa chọn nào khác không? Cô ấy cảm nhận được sự hoảng sợ của tôi, và giọng cô ấy mềm đi, như thể đang thương hại. Nhìn này – nó còn tốt hơn cái ô tô ấy. Ít nhất thì nó cũng bằng phẳng. Trời quá nóng nên thân nhiệt của cô sẽ không thu hút mấy con vật và –

“Mấy con vật?” Tôi lên tiếng hỏi. “Mấy con vật?”

Có những hình ảnh thoáng qua rất nhanh, chẳng dễ chịu gì của mấy con côn trùng trông kinh khủng và những con rắn cuộn mình trong kí ức của cô ấy.

Đừng lo. Cô ấy cố gắng xoa dịu tôi khi tôi nhảy lò cò, tránh xa khỏi bất cứ cái gì có thể đang ẩn náu dưới lớp cát, mắt tôi xuyên qua bóng tối tìm một lối thoát nào đó. Chẳng có gì làm phiền cô nếu cô không làm phiền nó trước cả. Rút cục thì cô to lớn hơn bất cứ cái gì ở chỗ này. Một kí ức khác nháng qua trí óc chúng tôi, lần này là một con linh cẩu kích thước trung bình, một con chó sói đồng cỏ.

“Hoàn hảo,” tôi rên lên, sụp xuống ôm lấy mình, mặc dù tôi vẫn còn sợ bóng tối bao quanh tôi. “Bị giết bởi mấy con chó hoang. Ai mà nghĩ được mọi chuyện sẽ kết thúc… tầm thường như thế chứ? Thật là mất phẩm cách. Một con quái vật đầy móng vuốt trên Hành tinh Mù sương, chắc rồi. Ít nhất còn có chút danh giá khi bị cái thứ đó hạ gục.”

Giọng điệu trả lời của Melanie khiến tôi tưởng tượng cô ấy đang đảo tròng mắt. Thôi trẻ con thế đi. Chẳng ai ăn thịt cô đâu. Giờ thì nằm xuống và nghỉ một chút đi. Ngày mai sẽ khó khăn hơn cả hôm nay đấy.

“Cảm ơn vì tin tốt lành,” tôi làu bàu. Cô ấy đang biến thành một tên bạo chúa. Nó khiến tôi nghĩ tới một câu châm ngôn của loài người Được đằng chân lân đằng đầu. Nhưng tôi đã kiệt sức hơn là tôi tưởng, và khi tôi nằm xuống đất một cách dằn dỗi, tôi thấy mình khó mà không gục xuống mặt đất thô ráp, lổn nhổn những sỏi và nhắm mắt lại được.

Có vẻ như chỉ mới vài phút trôi qua khi bình minh ló rạng, ánh sáng chói lòa và nóng nực đủ để làm tôi vã mồ hôi. Người tôi bám đầy đất đá lúc tôi tỉnh dậy; cánh tay phải đặt dưới người tôi và tê dại. Tôi rùng mình thoát khỏi cảm giác ngứa ngáy và rồi với tay vào trong ba lô để tìm nước.

Melanie không đồng ý, nhưng tôi lờ tịt cô ấy đi. Tôi tìm cái chai nước còn một nửa mà lần trước tôi đã uống, tôi lục lọi qua những chai đầy và rỗng cho đến khi tôi bắt đầu nhìn thấy tình huống.

Với một cảm giác cảnh báo dâng lên từ từ, tôi bắt đầu đếm. Tôi đếm hai lần. Số chai rỗng nhiều hơn số chai đầy là hai chai. Tôi đã dùng hơn nửa nguồn nước của tôi rồi.

Tôi đã bảo cô là cô uống quá nhiều rồi mà.

Tôi không trả lời cô ấy, nhưng tôi đeo cái ba lô vào mà không uống ngụm nào. Miệng tôi có cảm giác kinh khủng, khô nẻ và đầy cát và đắng nghét. Tôi cố lờ nó đi, cố dừng liếm hàm răng đầy sạn bằng cái lưỡi khô như giấy của tôi, và bắt đầu bước đi.

Khó mà lờ đi cái dạ dày của tôi hơn nhiều so với cái miệng khi mặt trời lên cao hơn và nóng bỏng hơn trên đầu tôi. Nó vặn xoắn và co rút lại mỗi khi đến giờ ăn thông thường, dự đoán trước những bữa ăn sẽ không tới. Đến chiều, cơn đói đã đi từ khó chịu thành đau đớn.

Thế này chẳng đáng gì, Melanie nhắc nhở tôi một cách chế giễu. Chúng tôi đã từng bị đói hơn thế này.

Cô đã từng bị, tôi chỉnh lại. Tôi cảm thấy không muốn trở thành một khán giả cho những kí ức khổ sở của cô ấy ngay lúc này.

Tôi đã bắt đầu tuyệt vọng thì tin tốt lành đến. Khi tôi quay đầu nhìn hết đường chân trời theo thói quen, một cử động không hăng hái cho lắm, thì cái hình củ hành của đỉnh vòm nhảy ra trước mắt tôi từ trung tâm của đường viền phía bắc của một đỉnh núi nhỏ. Phần bị mất chỉ là một hình răng cưa mờ nhạt nhìn từ chỗ này.

Khá gần rồi đấy, Melanie quyết định, cũng mừng run như tôi vì bước tiến triển này. Tôi hăm hở quay sang hướng bắc, những bước chân tôi dài hơn. Tiếp tục tìm kiếm cái tiếp theo. Cô ấy nhớ lại một hình dáng khác cho tôi xem, và tôi bắt đầu quay đầu ngay lập tức, mặc dù tôi biết rằng chẳng ích gì khi tìm kiếm nó ngay từ bây giờ.

Sẽ phải đi về hướng đông. Lên hướng bắc rồi rẽ sang đông rồi lại đi lên hướng bắc. Định hướng là như thế.

Việc tìm được thêm một cột mốc nữa đã nâng tinh thần tôi lên để tôi tiếp tục bước đi bất chấp hai chân ngày càng yếu ớt. Melanie thúc giục tôi đi tiếp, lải nhải những câu khích lệ khi tôi đi chậm lại, nghĩ về Jared và Jamie khi tôi trở nên thờ ơ. Tôi tiến lên đều đặn, và tôi chờ cho đến khi Melanie chấp thuận từng ngụm nước của tôi, cho dù bên trong cổ họng tôi khô rát như thế nào.

Tôi phải thừa nhận rằng tôi đã tự hào vì mình rất cứng rắn. Khi con đường đất xuất hiện, nó dường như là một phần thưởng. Nó uốn lượn lên hướng bắc, hướng mà tôi vẫn đang đi theo, nhưng Melanie lại trở nên khó chiều.

Tôi không thích hình ảnh của nó, cô ấy cứ khăng khăng.

Con đường chỉ là một đường màu vàng xuyên qua bụi rậm, chỉ được định hình nhờ bề mặt bằng phẳng hơn và ít cây cối hơn mà thôi. Những vết lốp từ rất lâu rồi tạo hai đường rãnh song song, nằm ở trung tâm con đường nhỏ.

Nếu con đường dẫn đến hướng sai, chúng ta sẽ rời khỏi nó. Tôi đã đang bước đi ở giữa vết xe rồi. Thế dễ dàng hơn là cứ đi len lỏi qua đám cây creosote và tìm kiếm một cây cholla.

Cô ấy không trả lời, nhưng sự khó chịu của cô ấy khiến tôi cảm thấy hơi hoang mang. Tôi tiếp tục tìm kiếm hình dáng tiếp theo – một chữ M hoàn hảo, hai đỉnh núi lửa liền nhau – nhưng tôi cũng nhìn ra hoang mạc xung quanh tôi cẩn thân hơn trước.

Vì tôi đã cực kì cẩn trọng, tôi chú ý đến vệt bẩn màu xám ở phía xa xa trước khi tôi có thể nhận ra nó là cái gì. Tôi tự hỏi liệu mắt tôi có đang đánh lừa tôi không và chớp mắt để gạt lớp bụi đang làm mờ chúng. Màu sắc có vẻ không đúng với một phiến đá, và hình dáng thì quá cứng so với một cái cây. Tôi nheo mắt trước ánh sáng, cố đoán.

Rồi tôi chớp mắt lần nữa, và vệt xám đột ngột chuyển thành một cấu trúc, gần hơn là tôi tưởng. Nó là một kiểu nhà hay tòa nhà gì đấy, nhỏ và bị bào mòn thành một màu xám mờ xỉn.

Cơn hoảng loạn của Melanie khiến tôi nhảy ra khỏi con đường hẹp vào trong tầm ẩn nấp của một bụi cây cằn cỗi.

Từ từ đã, tôi bảo cô ấy. Tôi chắc nó đã bị bỏ hoang.

Làm sao cô biết được? Cô ấy lùi lại dữ dội đến mức tôi phải tập trung vào chân tôi thì mới có thể di chuyển chúng lên phía trước được.

Ai sẽ sống ở ngoài đó chứ? Những linh thể chúng tôi là loài hướng ngoại. Tôi nghe thấy âm điệu cay đắng trong lời giải thích của tôi và biết nguyên nhân là nơi mà tôi đang đứng – cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng đều là ở nơi không ai biết đấy là đâu. Tại sao tôi lại không còn thuộc về xã hội của các linh thể nữa? Tại sao tôi lại cảm thấy như tôi không… như là tôi không muốn thuộc về nơi ấy? Liệu tôi đã bao giờ thực sự là một phần của cái cộng đồng mà đáng lẽ là của tôi chưa, hay đó chính là lý do ẩn dấu đằng sau nhiều kiếp sống trôi dạt đằng đẵng của tôi? Có phải tôi đã luôn luôn là một kẻ lập dị, hay đó là do Melanie đã biến tôi thành người như thế? Có phải hành tinh này đã thay đổi tôi, hay là nó đã hé lộ cho tôi con người thực sự của mình?

Melanie không có chút kiên nhẫn nào với tràng đả kích bản thân của tôi – cô ấy muốn tôi đi càng xa khỏi ngôi nhà càng tốt. Những ý nghĩ của cô ấy lôi kéo và xoắn xít vào ý nghĩ của tôi, kéo tôi ra khỏi màn tự vấn lương tâm của tôi.

Bình tĩnh lại nào, tôi ra lệnh, cố tập trung các ý nghĩ của tôi lại, để phân biệt chúng khỏi ý nghĩ của cô ấy. Nếu có bất kì cái gì sống được ở đây, thì sẽ là con người. Tin tôi đi; không có cái gọi là ẩn sĩ trong số các linh thể đâu. Có lẽ là Bác Jeb –

Cô ấy phản đối ý này một cách thô bạo. Không ai có thể sống khơi khơi ngoài trời thế này được. Loài của cô sẽ rà soát kĩ lưỡng bất kì một sự cư trú nào. Bất kể là ai đã sống ở đây cũng đã chạy trốn hoặc là trở thành một trong bọn cô. Bác Jeb chắc phải có một chỗ trốn tốt hơn.

Và nếu bất kể ai sống ở đây đã trở thành một trong chúng tôi, tôi đảm bảo với cô ấy, thì họ cũng đã rời khỏi nơi này rồi. Chỉ có loài người mới sống theo cách này… tôi lạc giọng, đột nhiên cũng trở nên sợ hãi.

Sao thế? Cô ấy phản ứng mạnh mẽ với nỗi sợ của tôi, đông cứng tại chỗ. Cô ấy quét qua những ý nghĩ của tôi, tìm kiếm cái tôi nhìn thấy đã làm tôi khổ sở.

Nhưng tôi chẳng thấy cái gì mới hết. Melanie, nếu lỡ có con người ở đây thì sao – không phải Bác Jeb và Jared và Jamie? Nếu lỡ ai đó khác tìm thấy chúng ta thì sao?

Cô ấy từ từ hấp thu ý kiến đó, cân nhắc nó. Cô nói đúng. Họ sẽ giết chúng ta ngay lập tức. Tất nhiên rồi.

Tôi cố nuốt nước bọt, để gột vị kinh hoàng khỏi ra khỏi miệng tôi.

Sẽ không còn ai khác đâu. Làm sao còn được chứ? Cô ấy nói lý lẽ. Loài của cô quá cẩn trọng. Chỉ có những ai đã đi trốn từ trước thì mới có cơ hội thôi. Vì thế hãy vào trong kiểm tra đi – cô chắc là không có người của cô, và tôi chắc là không có người của tôi trong đó. Có lẽ chúng ta có thể tìm thấy cái gì đấy có ích, cái gì đấy chúng ta có thể dùng làm vũ khí.

Tôi rùng mình trước ý nghĩ về những con dao sắc và những dụng cụ kim loại có thể biến thành những chiếc dùi cui. Không vũ khí gì hết.

Aaaa. Làm thế nào mà những tạo vật không xương này đánh bại chúng tôi được chứ?

Lén lút và áp đảo về số lượng. Bất kì ai trong số bọn cô, kể cả lũ trẻ, cũng nguy hiểm gấp trăm lần hơn một người bọn tôi. Nhưng cô giống như một con mối trong tổ kiến. Có hàng triệu người chúng tôi, tất cả đều làm việc cùng nhau hòa hợp hoàn hảo hướng về mục tiêu chung.

Một lần nữa, khi tôi mô tả về sự thống nhất, tôi cảm thấy cảm xúc hoảng sợ và hoang mang kéo tới. Tôi là ai?

Chúng tôi lẩn vào những cây creosote khi tiếp cận cấu trúc nho nhỏ đó. Trông có vẻ là một ngôi nhà, chỉ là một cái lán nhỏ bên cạnh con đường, không có dấu vết nào hé lộ bất kì mục đích nào khác. Lý do nó hiện diện ở đây là một điều bí ẩn – vị trí này chẳng có gì ngoài sự trống trải và cái nóng.

Không có biểu hiện cư trú nào gần đây hết. Khung cửa trống hoác, không có cửa, và chỉ có vài mảnh kính vỡ vẫn còn bám lại trên những khung cửa sổ trống không. Bụi bám dày trên ngưỡng cửa và bao phủ phía bên trong. Những bức tường bạc màu dường như nghiêng đi vì gió, như thể gió luôn thổi từ một hướng ở nơi này.

Tôi có thể áp chế sự bồn chồn của mình khi dè dặt bước vào khung cửa trống; chắc hẳn ở đây chúng tôi cũng cô độc như suốt cả ngày nay và ngày hôm qua vậy.

Bóng râm được hứa hẹn từ lối vào trống không đã kéo tôi về phía trước, chấm dứt nỗi sợ của tôi vì vẻ ngoài của nó. Tôi vẫn lắng nghe cẩn thận, nhưng chân tôi bước lên trước với những bước nhanh nhẹn, chắc chắn hơn. Tôi phóng qua cửa trước, di chuyển nhanh về một phía để dựa lưng vào tường. Đó là hành động bản năng, một sản phẩm của những ngày đi kiếm thức ăn của Melanie. Tôi đứng nguyên tại đó, yếu đuối vì tầm nhìn hạn chế của mình, chờ cho mắt tôi tự điều chỉnh.

Căn lều nhỏ trống không, như chúng tôi đã biết. Chẳng có thêm dấu hiệu sống nào trong nhà so với bên ngoài. Một cái bàn gãy đổ nghiêng đổ ngả trên hai chân lành lặn còn lại ở giữa phòng, với một cái ghế kim loại bụi bám đầy bên cạnh. Từng mảng bê tông lộ ra qua những cái lỗ lớn trên tấm thảm rách rưới, nhếch nhác. Cái bếp nhỏ đặt dọc bức tường với một bồn rửa bụi bặm, một hàng ngăn kéo – vài cái không có cửa – và một chiếc tủ lạnh cao ngang người mở toang, để lộ ra thứ mốc meo đen xì ở bên trong. Một bộ khung ghế sô pha dựa sát vào bức tường đối diện, tất cả vải bọc đã mất. Một khung tranh in hình mấy chú chó chơi xì phé (poker) vẫn còn treo lủng lẳng phía trên cái ghế, chỉ có một góc bám trụ được.

Như ở nhà, Melanie nghĩ, đủ thư giãn để có thể châm chọc. Nó còn có nhiều đồ trang trí hơn căn hộ của cô.

Tôi đã đi tới cái bồn rửa. Mơ đi, Melanie nói thêm như là hữu ích lắm vậy.

Tất nhiên sẽ không có việc lãng phí nguồn nước chạy tới cái khu vực đồng không mông quạnh này; các linh thể quản lý những việc tiểu tiết như thế này rất tốt chứ không để chuyện vô lý như thế lại sau. Tôi vẫn phải vặn mấy cái vòi nước cổ lỗ. Một cái gãy ngay trên tay tôi, đã bị rỉ sét ăn mòn hết cả.

Tiếp theo tôi quay sang cái tủ chén, quỳ trên tấm thảm bẩn thỉu để ngó đầu vào bên trong. Tôi nghiêng người sang bên hết cỡ khi mở cánh cửa, sợ sẽ làm phiền một trong số những loài vật độc địa của hoang mạc trong hang ổ của chúng.

Ngăn đầu tiên trống không, không có tấm ván ở mặt sau, vì thế tôi có thể nhìn thấy những thanh gỗ ép của bức tường ngoài. Ngăn tiếp theo không có cửa, nhưng có một chồng báo cũ ở bên trong, phủ đầy bụi. Tôi kéo một tờ ra ngoài, tò mò, phủi đám bụi bẩn xuống sàn, và đọc ngày tháng.

Từ thời của con người, tôi chú ý thấy. Không có nghĩa là tôi cần nhìn ngày tháng mới biết được.

“Người đàn ông thiêu cô con gái ba tuổi đến chết,” dòng tít thét vào mặt tôi, đi kèm với một bức ảnh của đứa bé tóc vàng thiên thần. Nó không phải là trang nhất. Nỗi kinh hoàng được kể ở đây không ghê tởm đến mức phải đưa lên hàng đầu Bên dưới bức ảnh là khuôn mặt của một người đàn ông bị truy nã vì tội sát hại vợ và hai đứa con của ông ta hai năm trước ngày báo ra; câu chuyện nói về khả năng phát hiện ra người đàn ông đó ở Mexico. Hai người đã bị chết và ba người bị thương trong một vụ tai nạn do lái xe say rượu. Một vụ điều tra về tội gian lận và giết người liên quan đến cái chết được cho là do tự tử của một chủ nhà băng địa phương nổi danh. Một lời thú tội bị ỉm đi gây ra việc trả tự do cho một kẻ đã nhận tội lạm dụng tình dục trẻ em. Những vật nuôi trong nhà bị giết và được tìm thấy trong sọt rác.

Tôi rụt người lại, ném tờ báo trở lại cái tủ đựng chén.

Đó là những ngoại lệ, không phải chuyện thường ngày, Melanie lặng lẽ nghĩ, cố gắng ngăn không cho nỗi kinh hoàng mới mẻ từ phản ứng của tôi thâm nhập vào trong kí ức về những năm tháng đó của cô ấy và làm đổi màu chúng.

Giờ cô có thể hiểu tại sao mà chúng tôi lại cho là chúng tôi có thể làm tốt hơn chưa? Tại sao chúng tôi có thể cho là có lẽ các người không xứng đáng có được tất cả những điều tuyệt vời trên thế giới này?

Câu trả lời của cô ấy rất chua cay. Nếu các người muốn làm sạch cái hành tinh này, đáng lẽ các người nên làm nó nổ tung.

Bất chấp những điều mà các nhà văn viết truyện khoa học viễn tưởng của cô mơ tưởng, chúng tôi đơn giản là không có cái công nghệ đó.

Cô ấy không nghĩ câu nói đùa của tôi buồn cười.

Hơn nữa, tôi nói thêm, làm thế sẽ là cả một sự phí phạm. Đây là một hành tinh đáng yêu. Tất nhiên, cái hoang mạc không chịu nổi này là ngoại lệ.

Đó là lý do tại sao chúng tôi nhận ra các người ở đây, cô biết không, cô ấy nói, nghĩ về những dòng tít tin tức kinh tởm đó một lần nữa. Khi bản tin buổi tối chẳng có gì ngoài những câu chuyện khơi gợi niềm vui thích của con người, khi những kẻ bệnh hoạn[1]và nghiện ngập[2] xếp hàng ở các bệnh viện để tự nhập viện, khi tất cả mọi thứ đều dập khuôn kiểu Mayberry[3], đó là lúc mà các người lộ mặt.

“Một sự thay đổi tồi tệ làm sao!” tôi nói cộc lốc, quay lại với cái ngăn tủ tiếp theo.

Tôi kéo một cánh cửa cứng đờ ra và tìm được đường ống nước chính.

“Bánh quy!” Tôi hét lên, vồ lấy cái hộp Saltines đã bay hết màu, gần hỏng. Còn một cái hộp khác bên dưới nó, một cái trông như bị ai đó dẫm lên. “Bánh nhân kem!”[4] Tôi reo lên.

Nhìn này! Melanie giục, chỉ một ngón tay trong tâm tưởng vào ba cái chai chất tẩy bụi bặm ở tít sâu trong tủ chén.

Cô cần chất tẩy làm gì chứ? Tôi hỏi, đã bắt đầu xé tung cái hộp bánh quy ra. Để ném vào mắt ai đó chắc? Hay là đập vào đầu họ bằng cái chai?

Trước niềm vui của tôi, những chiếc bánh quy, mặc dù đã biến thành vụn bánh, vẫn ở trong bao ni lông của chúng. Tôi xé một cái ra và bắt đầu dốc đám vụn bánh vào miệng, vừa nhai vừa nuốt. Tôi không thể tống chúng vào dạ dày tôi đủ nhanh.

Mở cái chai ra và ngửi đi, cô ấy hướng dẫn, lờ đi những bình luận của tôi. Đó là cách cha tôi vẫn thường dự trữ nước trong ga-ra. Chất tẩy lắng xuống sẽ giữ cho nước không phát sinh cái gì hết.

Chờ một phút. Tôi ăn hết một gói vụn bánh và bắt đầu sang cái tiếp theo. Chúng đã hỏng hết rồi, nhưng so với cái vị trong miệng tôi, chúng là cao lương mỹ vị. Khi tôi ăn hết cái thứ ba, tôi bắt đầu nhận biết vị muối xát vào những vết nẻ trên môi và khóe miệng tôi.

Tôi nhấc một trong những bình chất tẩy ra ngoài, hi vọng Melanie đúng. Cánh tay tôi yếu ớt và run rẩy, gần như không nhấc nó lên được. Điều này làm cả hai chúng tôi đều lo lắng. Tình trạng cơ thể của chúng tôi đã xuống cấp đến đâu rồi? Chúng tôi còn có thể đi được bao xa nữa?

Cái nắp chai quá chặt, tôi tự hỏi liệu nó có bị tan chảy ở đó không. Mặc dù vậy, cuối cùng tôi vẫn có thể vặn nó ra bằng răng. Tôi cẩn trọng hít ngửi cái miệng chai, không đặc biệt mong muốn ngất xỉu vì mùi chất tẩy. Mùi hóa chất rất mờ nhạt. Tôi hít sâu hơn. Chắc chắn nó là nước rồi. Nước đục ngàu, bốc mùi, nhưng vẫn là nước. Tôi uống một ngụm nhỏ. Không phải là một dòng suối nước tinh khiết, nhưng ẩm ướt. Tôi bắt đầu tu ừng ực.

Chậm lại nào, Melanie cảnh cáo, và tôi phải đồng ý. Chúng tôi đã may mắn vớ được nguồn nước này, nhưng không nên lãng phí nó. Hơn nữa, bây giờ khi vị xót trên miệng đã giảm tôi muốn có cái gì đó chắc dạ hơn. Tôi quay sang hộp bánh kem Twinkies và liếm ba trong số những cái bánh dính nhoe nhoét vào thành trong của giấy gói.

Cái ngăn tủ cuối cùng trống rỗng.

Ngay khi cái đói đã hơi lắng xuống, sự sốt ruột của Melanie bắt đầu thấm vào đầu tôi. Không hề thấy muốn phản đối gì lúc này, tôi nhanh chóng nhét chiến lợi phẩm vào trong ba lô, ném những chai nước rỗng vào trong bồn để lấy chỗ. Những cái chai chất tẩy rất nặng, nhưng cái nặng này là cái nặng dễ chịu. Nó có nghĩa là tôi sẽ không phải nằm dài ra ngủ trên nền đất sa mạc vừa đói vừa khát đêm nay nữa. Với năng lượng do đường mang lại bắt đầu bơm trong mạch máu tôi, tôi nhảy ra ngoài trời chiều chói chang.